Một số kinh nghiệm trong công tác bảo quản di tích Nhà sàn ở Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

Nguyễn Thị Xuân
Phòng BQDT
Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch là di tích quốc gia đặc biệt quan trọng, nơi lưu giữ khá nguyên trạng các di tích và các tài liệu hiện vật gắn liền với 15 năm sống và làm việc cuối đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1954-1969). Nằm trong quần thể di tích ấy, ngôi Nhà sàn bằng gỗ - nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh sống và làm việc 11 năm (1958-1969) được coi là di tích trung tâm, có giá trị đặc biệt.
Ngay sau ngày Bác đi xa, công tác bảo vệ, bảo quản di tích, các tài liệu hiện vật tại Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch luôn được xác định là khâu công tác quan trọng và cần thiết, là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu được thực hiện liên tục trong suốt gần 50 năm qua, nhằm bảo vệ trạng thái nguyên gốc và kéo dài tuổi thọ của các di tích, tài liệu hiện vật trong các nhà di tích và giữ nguyên trạng cảnh quan môi trường để phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học và phục vụ đồng bào cả nước, Việt kiều ở nước ngoài và bạn bè quốc tế tới tham quan. Chính vì vậy đã đặt ra cho Khu di tích những yêu cầu rất lớn như bảo quản tài liệu hiện vật theo các nguyên tắc đảm bảo tính nguyên gốc của di tích, không làm thay đổi, biến dạng, hỏng hoặc xuống cấp, bảo vệ cảnh quan môi trường một cách nghiêm ngặt nhất làm sao để giữ nguyên cảnh quan, hạn chế tối đa những đổi thay so với lúc sinh thời Bác sống và làm việc. Hiện nay, công tác bảo quản di tích Nhà sàn và các tài liệu hiện vật được áp dụng các phương pháp khác nhau như: Bảo quản phòng ngừa; Bảo quản tu bổ, tu sửa, phục chế. Đây là công việc vô cùng khó khăn phức tạp mà các thế hệ cán bộ, nhân viên làm công tác bảo quản di tích và lãnh đạo Khu di tích luôn trăn trở, quan tâm tìm cách giải quyết.
I. Thực trạng công tác bảo quản di tích Nhà sàn và các tài liệu hiện vật:
1. Bảo quản phòng ngừa:
*Môi trường không khí, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng: Công việc loại bỏ bụi bẩn cho các di tích và tài liệu hiện vật được cán bộ bảo quản thực hiện hàng ngày vào trước và sau giờ đón khách tham quan bằng việc vệ sinh quét bụi và lau bằng vải sợi mềm làm sạch bụi bẩn trên bề mặt hiện vật và di tích. Tuy nhiên hiện vật bị bụi phải vệ sinh thường xuyên cũng gây ra nhiều mối nguy hại, do đó cán bộ bảo quản đã sử dụng các hộp mica chụp các hiện vật. Và sau giờ nghỉ đón khách, các cửa sổ, cửa ra vào, mành che hiên được đóng và buông xuống. Bên cạnh đó, việc bảo quản phía ngoài trần, dọn vệ sinh máng, mái của ngôi nhà được thực hiện mỗi tuần một lần vào buổi chiều thứ hai nghỉ đón khách tham quan cũng giúp hạn chế bụi, bẩn cho các di tích và tài liệu hiện vật. Ngoài ra, khi đón các đoàn nguyên thủ quốc gia, các đoàn cấp cao của các nước trên thế giới vào thăm trực tiếp tầng 2 Nhà sàn, để giảm lượng bụi bẩn, giảm xây xước sàn nhà cũng như thuận tiện cho khách, cán bộ bảo quản đã sử dụng tất vải để phục vụ các đoàn khách.
Để khắc phục việc bị cũ đi, bị biến màu, biến dạng hoặc giảm tuổi thọ một cách tự nhiên của di tích và tài liệu hiện vật dưới ảnh hưởng của ánh sáng, cán bộ bảo quản đã sử dụng một số biện pháp đơn giản như giảm bớt công suất của bóng đèn, khi hết khách thì tắt điện nhà di tích, đóng cửa sổ và các cửa ra vào.   
*Côn trùng, động vật gây hại: Mối mọt, côn trùng và động vật gây hại, đặc biệt là mối, luôn là nguy cơ lớn đối với di tích. Bởi gần như 100% vật liệu xây dựng di tích Nhà sàn là gỗ trừ phần nền bê tông và mái ngói. Về tài liệu hiện vật, phần lớn cũng được cấu thành từ những vật liệu đơn giản dễ bị mối xông và rất hấp dẫn mối như chất liệu xenlulô, đồ gỗ, vải. Hơn thế các tài liệu, hiện vật và di tích đã được sử dụng và sử dụng thường xuyên, do đó ngoài yếu tố bền đã bị giảm sút thì việc dễ dàng bị mối tấn công cũng là một thực tế. Do vậy công tác bảo quản luôn phải thường xuyên kiểm tra bằng thị giác, phát hiện mối để kịp thời xử lý. Vệ sinh sạch sẽ di tích và tài liệu, hiện vật để giảm thiểu tối đa côn trùng, gặm nhấm và nấm mốc xâm nhập. Trong những năm gần đây, Khu di tích đã phối hợp với Công ty khử trùng Việt Nam tiến hành phương pháp phòng trừ mối (kiểm soát mối) bằng công nghệ cao của Mỹ, không gây độc hại đến môi trường, con người và đã có hiệu quả. Việc sử dụng biện pháp diệt mối được thực hiện sớm, mở rộng phạm vi phòng ngừa không chỉ ở các công trình kiến trúc trọng điểm mà còn mở rộng xử lý mối ở các cây cổ thụ, các khu vực nền đất có khả năng mối tiềm ẩn làm tổ để tìm cách tiếp cận công trình di tích, tài liệu, hiện vật.
*Thiên tai: Trong mùa mưa bão, cán bộ bảo quản đã áp dụng một số biện pháp phòng ngừa như triển khai chống bão bằng hệ thống dây sắt chằng từ 4 góc mái nhà sàn xuống dưới đất và cắt tỉa cành đối với cây to, tán rộng. Vào những ngày mưa to, gió lớn, xung quanh Nhà sàn được buông mành, chằng dây thừng và căng bạt để tránh mưa hắt và gió giật vào phần sàn gỗ, các cột nhà sàn.
*Hỏa hoạn: Để ngăn ngừa mối hiểm họa này, Khu di tích quy định khách tham quan không được hút thuốc ở khu vực gần Nhà sàn, dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt của đội bảo vệ. Quan trọng hơn là Khu di tích đã đầu tư trang thiết bị hiện đại như: lắp đặt hệ thống thiết bị báo cháy, chống cháy tự động, các bình chữa cháy đặt ở các vị trí khác nhau. Khu vực ngoài trời được lắp đặt các họng nước và có tủ để vòi cứu hỏa bên cạnh, đồng thời có máy bơm riêng để tạo áp lực lớn khi bơm nước lên cao. Và để thực hiện tốt công tác này, một ban chỉ huy phòng cháy chữa cháy được thành lập gồm các thành viên: đại diện lãnh đạo cơ quan, đại diện phòng tổ chức hành chính, bảo vệ, kỹ thuật và các cán bộ ở các phòng. Hàng năm Khu di tích còn có sự phối hợp chặt chẽ với lực lượng cảnh sát PCCC trên địa bàn Quận, tập huấn cho cán bộ toàn cơ quan ít nhất là một lần. Hai hoặc ba năm một lần phối hợp với Phòng cảnh sát PCCC quận Ba Đình huấn luyện để thực hiện cứu hỏa cho các nhà di tích khi cần thiết, thường xuyên kiểm tra các họng nước, các bình cứu hỏa để đảm bảo còn sử dụng được và hoạt động tốt khi cần.
*Tội phạm phá hoại: Xác định đúng tầm quan trọng của công tác bảo vệ, bảo quản nhằm ngăn chặn âm mưu phá hoại của kẻ xấu, Khu di tích đã phối hợp với các cơ quan có liên quan như Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ, Bộ tư lệnh Cảnh vệ… để sẵn sàng ứng phó với các tình huống có thể xảy ra. Trong nội bộ cơ quan, các cán bộ bảo vệ, cán bộ thuyết minh với cán bộ bảo quản luôn nêu cao ý thức cảnh giác trong khi làm nhiệm vụ, không bỏ qua một hành vi khả nghi nào dù là nhỏ nhất của khách tham quan, kể cả khách trong nước và quốc tế. Đồng thời, Khu di tích đã trang bị các trang thiết bị phục vụ công tác bảo vệ như: bộ đàm, camera ở các điểm di tích và các điểm dừng chân, thiết bị kiểm tra người và hành lý đối với khách vào tham quan và cổng ra vào cơ quan.
2. Bảo quản tu bổ, tu sửa, phục chế:
Với di tích Nhà sàn gỗ mở cửa đón khách tham quan 365 ngày trong năm kể cả thời tiết mưa bão cho nên dù công tác bảo quản phòng ngừa được cán bộ bảo quản thực hiện rất nghiêm túc và đúng quy trình đã đề ra, nhưng do tác động của thiên nhiên, thời tiết ngày càng khắc nghiệt, môi trường nhiều cây cối, độ ẩm cao nên di tích, tài liệu, hiện vật có hiện tượng biến dạng là điều không thể tránh khỏi. Một số cột Nhà sàn bị nứt dọc từ dưới lên do thời tiết nóng nắng, sàn gỗ có chỗ bị cong, vênh, nứt to, các cửa lưới bị giòn thủng, nẹp gỗ bị bong, rèm che cửa bị ố, rách, chụp đèn bị hỏng, hoa văn trên cửa kính bị giòn và bong ra; những cuốn sách, báo, bản tin trên bàn, giá sách cũng bị hoen ố, rách là do khí hậu gây nên.
Để khắc phục hiện tượng này, cán bộ bảo quản đã tuân thủ các vấn đề thuộc về nguyên tắc tu bổ, tu sửa, phục chế tài liệu hiện vật và di tích như :
+ Giải phóng, tước bỏ khỏi di tích tất cả những lớp bổ sung xa lạ, gây ảnh hưởng xấu tới các mặt giá trị của di tích.
+ Giữ lại tối đa những yếu tố nguyên gốc của di tích.
+ Làm cho di tích có độ bền vững về mặt kết cấu để tồn tại lâu dài trước tác động của điều kiện khí hậu và thời tiết khắc nghiệt cũng như thử thách của thời gian.
+ Phục chế không phải từ suy đoán mà phải dựa trên thực tế đã biết.
+ Phục chế không làm thay đổi đặc điểm nguyên gốc như hình dạng, kích thước, thông tin, thẩm mỹ của hiện vật.
Đó là những nguyên tắc bất di bất dịch đối với công tác tu bổ, tu sửa, phục chế tài liệu, hiện vật và di tích của Khu di tích.
*Đối với tài liệu, hiện vật :
Cán bộ bảo quản đã phục chế một số tài liệu, hiện vật có chất liệu là vải, giấy, đồ mộc… Với từng chất liệu cụ thể thì gia cố theo từng phương pháp cho phù hợp nhưng phải tuân thủ đúng nguyên tắc phục chế trên.
Đối với đồ giấy, tài liệu bị giòn, rách, thủng phải bồi vá lại chỗ thủng bằng giấy dó.
Đối với đồ vải bị rách, đứt các đường viền thì khâu lại, cố giữ cái nguyên gốc vốn có của hiện vật… Nếu hiện vật bị hỏng nhiều cần phục chế lại thì phải chọn đúng chất liệu, màu sắc, kích cỡ như hiện vật gốc.
Đối với đồ mộc, mây bị thủng, bong, rộp, nứt: tiến hành thay thế rất hạn chế những phần mảng bị hỏng bằng những chất liệu tương tự và hình dáng, màu sắc, kích thước tương tự.
*Đối với di tích :
Khu di tích đã tiến hành bảo quản theo chế độ định kỳ ngắn hạn, dài hạn và chống xuống cấp di tích. Đây là công việc khó, đòi hỏi cao về kỹ thuật chuyên môn và phải có sự đổi mới thường xuyên. Đã kiểm soát và phát hiện kịp thời những hư hỏng và có kế hoạch tu bổ, sửa chữa kịp thời với quan điểm nhất quán: luôn chọn tu sửa nhỏ nếu điều ấy là đủ; đắn đo kỹ nếu phải cần đến tu sửa vừa và một khi tu sửa nhỏ và vừa bất lực thì mới quyết định giải pháp tu sửa lớn nhưng cân nhắc thận trọng: ưu tiên cứu vãn tính nguyên gốc của thực thể hiện hữu trước các ưu tiên bền vững. Tránh tình trạng làm thay đổi biến dạng di tích. Việc tu bổ định kỳ hàng năm được tiến hành từ việc xây dựng kế hoạch, báo cáo trình duyệt và triển khai thực hiện kế hoạch tu bổ sau khi được phê duyệt vào dịp Lăng Bác tạm ngừng đón khách vào viếng. Các hạng mục công việc thực hiện là: sửa chữa máng, mái, hệ thống thoát nước, đánh vécni lại toàn bộ ngôi nhà… Trong quá trình tu bổ, Phòng bảo quản phân công cán bộ khoa học theo dõi, thường xuyên bám sát công việc, ghi chép, giám sát từng phần công việc tu bổ, ghi chép vào sổ nhật ký để bổ sung cho hồ sơ di tích và điều quan trọng hơn là tu bổ, bảo dưỡng, bảo quản nhưng đảm bảo tính nguyên trạng của chúng.
II. Một số giải pháp
1. Cần đầu tư đúng hướng trang thiết bị phương tiện phục vụ cho công tác bảo quản, ưu tiên việc ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật trong công tác bảo quản di tích. Tích cực động viên, vận động sự giúp đỡ, hỗ trợ của các cơ quan chuyên môn về nghiệp vụ bảo quản di tích; chú trọng mở rộng giao lưu, hợp tác, trao đổi và thường xuyên tổng kết, giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn để đúc rút kinh nghiệm trong công tác bảo quản di tích.
2. Cán bộ bảo quản cần được tăng cường đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, cụ thể là việc đào tạo cán bộ bảo quản cần có chuyên môn sâu theo hướng cơ bản về bảo quản khoa học (kỹ thuật bảo quản từng chất liệu, tu bổ, tu sửa, phục chế…). Ngoài ra cán bộ bảo quản cần thông thạo tin học, ngoại ngữ để cập nhật thông tin và tiếp cận với những tiến bộ khoa học kỹ thuật, tài liệu bảo quản của các nước trên thế giới, tránh bị động, lúng túng trước những tình huống mới, giúp cho hoạt động bảo quản đạt được hiệu quả. Một điều đáng quan tâm nữa là cán bộ phụ trách công tác bảo quản ngoài tinh thần trách nhiệm, khả năng chuyên môn còn cần nắm vững kiến thức về bảo tàng, giàu nhiệt huyết, kinh nghiệm thực tế để có thể xử lý mọi tình huống xảy ra đối với tài liệu, hiện vật và di tích.
3. Những tài liệu hiện vật được trưng bày trong Nhà sàn luôn bị tác động trực tiếp của môi trường khí hậu, độ ẩm, sự xâm hại của các loại côn trùng gây hại và đặc biệt là tác động của con người. Ngoài ảnh hưởng từ lượng khách tham quan hàng ngày thì chính những người làm công việc bảo quản thường xuyên để phục vụ khách tham quan cũng là một tác nhân gây hư hại nghiêm trọng cho tài liệu, hiện vật như: vết nứt, vỡ (đối với hiện vật có chất liệu bằng đá, kim loại), cong, gấp nếp, rách (đối với hiện vật chất liệu bằng giấy) đều xuất phát từ sự cầm nắm, bê chuyển bất cẩn hoặc cất giữ không thích hợp. Hiện nay số tài liệu hiện vật đang trưng bày tại bàn làm việc tầng 1 Nhà sàn, hàng ngày đều được bê chuyển từ tầng 2 xuống tầng 1 để trưng bày vào đầu giờ sáng và hết giờ đón khách buổi chiều, cán bộ bảo quản lại cất giữ vào hộp để bê chuyển lên tầng 2. Như vậy rất bất tiện, để tránh những bất cẩn khi bê chuyển, hạn chế tối đa việc cầm nắm tài liệu, hiện vật lúc trưng bày thiết nghĩ nên trưng bày cố định số tài liệu, hiện vật trên bàn làm việc tại tầng 1 Nhà sàn.
4. Đối với khối hiện vật chất liệu giấy, Khu di tích cần sớm có kế hoạch phục chế, làm lại một cách khoa học và chính xác những sách, họa báo, báo, bản tin để trưng bày thay thế và đưa các sách và tài liệu gốc vào kho bảo quản.
5. Để bảo quản chất liệu gỗ, mỗi năm ngôi Nhà sàn được đánh vécni một lần bằng loại véc ni không bóng, có màu sắc đúng với màu gỗ của ngôi nhà. Qua thời gian sử dụng phương pháp vécni này, chúng tôi thấy có những bất cập, đó là lối đi của khách hẹp, lượng khách đông, mỗi một người khách khi đi qua đều vịn tay vào cột Nhà sàn, lâu ngày do thời tiết, mưa, ẩm, nóng, mồ hôi tay đã vô tình tạo thành vết lõm cong, nứt và chuyển màu đen bóng, lì tại thân cột. Mặc dù hàng năm ngôi nhà đánh vécni một lần để bảo quản gỗ, nhưng chỗ đen bóng đó phải nạo vào phần gỗ mà vẫn không hết và vécni cũng không thấm màu. Nên chăng trong thời gian tới có giải pháp sau khi đánh vécni tìm loại sơn không màu, không có độ bóng, không thấm nước để phủ lên bề mặt gỗ một lớp màng bảo vệ làm sao vẫn bảo quản được gỗ lại giải quyết được vấn đề kỹ thuật ; có như vậy thời tiết, khí hậu và do con người tác động sẽ làm chậm lại quá trình biến màu của vécni và thời gian tu bổ sẽ kéo dài thêm 2 hoặc 3 năm mới phải đánh lại.
6. Hiện nay việc sử dụng hệ thống chiếu sáng dân dụng cho di tích và hiện vật trưng bày không đảm bảo an toàn cho hiện vật. Để hạn chế ánh sáng ngoài trời và tăng ánh sáng nhân tạo mà đạt được yêu cầu của chiếu sáng trưng bày sẽ phải can thiệp đến kiến trúc và bài trí của căn phòng, như vậy sẽ phá vỡ tính nguyên trạng của di tích. Chiếu sáng trưng bày tài liệu hiện vật tại nhà di tích không phải là chiếu sáng trưng bày của một bảo tàng thuần túy, cần được nghiên cứu đưa ra giải pháp về kỹ thuật sao cho không phá vỡ tính nguyên trạng mà vẫn đạt được mục đích trưng bày.
Gần 50 năm qua, nhìn lại công tác chuyên môn về di tích Nhà sàn tại Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch đã và đang thực hiện một cách có hiệu quả trong việc  gìn giữ, bảo quản nguyên trạng di tích, tài liệu, hiện vật vẫn giữ  được như những năm Chủ tịch Hồ Chí Minh sống và làm việc. Góp phần vào việc đón hơn 70 triệu lượt người đến thăm nơi ở và làm việc của Người tại Phủ Chủ tịch. Với những thành tựu đã đạt được ở trên, công tác bảo quản, gìn giữ Khu di tích đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệp bảo tồn, tôn tạo một di sản lịch sử văn hóa của đất nước và chính điều đó đã góp phần làm cho khách tham quan mỗi khi đến nơi này vẫn như thấy hình bóng Bác, bởi mỗi căn nhà, gốc cây, ngọn cỏ,…nơi đây dường như vẫn lưu giữ được hơi ấm của Người.