Tính chiến đấu trong báo chí Cách mạng Việt Nam theo quan điểm của Bác Hồ

Tính chiến đấu trong  báo chí Cách mạng Việt Nam theo quan điểm của Bác Hồ
 
Cả cuộc đời, Bác Hồ đều giành tâm huyết cống hiến cho Cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng sự nghiệp báo chí Nước nhà. Để đất nước hòa bình, nhân dân được no ấm và hạnh phúc như ngày hôm nay cũng một phần nhờ vào sức mạnh đấu tranh tư tưởng thông qua các tác phẩm báo chí của Người.  Thấm nhuần lời Bác dạy, mỗi người làm báo phải là “Người chiến sĩ Cách mạng” để có đủ dũng cảm và chí khí thì mới đủ can đảm đấu tranh trên mặt trận văn hóa,  chính trị - tư tưởng.
 Hồ Chí Minh vạch trần tội ác của các thế lực xâm lược và bè lũ tay sai
Trước cách mạng tháng 8 năm 1945,  Việt Nam rơi vào ách đô hộ của thực dân Pháp. Đời sống kinh tế luôn chìm đắm trong đói nghèo, lạc hậu. Xã hội rối ren, phức tạp và các tầng lớp giai cấp ngày càng bị phân hóa sâu sắc rõ rệt. Trong sản xuất nông nghiệp, ruộng đất phần lớn tập trung trong tay giai cấp địa chủ phong kiến và thực dân Pháp. Ước tính có khoảng 60% số hộ nông dân cả nước không có ruộng đất để trồng lúa và hoa màu. Sản xuất công nghiệp nhỏ lẻ và què quặt, thực dân Pháp thẳng tay bóc lột sức lao động nhân dân ta khai thác mỏ và tài nguyên khoáng sản cho chúng.
Đau đáu trước cảnh nước mất, nhà tan, dân tộc Việt Nam phải sống trong cảnh nô lệ lầm than, cơ cực. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch trần tội ác bọn thực dân xâm lược thông qua một số tác phẩm nổi tiếng, những bài nói chuyện  của Người.
Trong “Bản án chế độ thực dân Pháp”, một tác phẩm chính luận nổi tiếng được xuất bản năm 1922 ở Pari, thủ đô nước Pháp, đăng trên tờ Le Paria ( Người cùng khổ)  của Quốc tế Cộng sản đã tố cáo tội ác của bọn thực dân Pháp đối với các dân tộc thuộc địa bị áp bức trên thế giới nói chung và dân tộc Việt Nam nói riêng.
Bằng những lý lẽ đanh thép và bằng chứng cụ thể, tác phẩm đã bóc trần bản chất bóc lột tàn ác dã man của thực dân Pháp với nhân dân ta. Chúng đã dùng vũ trang xâm lược “bình định” đất nước ta, đàn áp đẫm máu các phong trào yêu nước của ta để đặt và củng cố ách thống trị, bóc lột của chúng đối với nhân dân ta. Chúng bắt nhân dân ta phải nộp đủ các loại sưu, thuế rất vô lý như: Thuế thân, thuế muối, thuế thuốc phiện, thuế rượu, thuế lợn, thuế bò, thuế ghe, thậm chí cả thuế… xí. “Chính họ phải sống cùng khổ, trong khi bọn đao phủ của họ lại sống phè phỡn; hễ mất mùa là họ chết đói. Họ bị cướp giật từ mọi phía, bằng mọi cách, bởi nhà nước, bởi bọn phong kiến tân thời, bởi giáo hội Thiên chúa. Xưa kia, dưới chế độ phong kiến An Nam, ruộng đất xếp thành đẳng hạng theo tốt xấu. Thuế đánh theo sự phân hạng ấy. Dưới chế độ thuộc địa hiện nay, những điều đó đã thay đổi. Khi cần tiền, nhà nước bảo hộ Pháp chỉ có việc thay đổi hạng ruộng. Chỉ một nét bút thần kỳ là họ biến một đám ruộng xấu thành ruộng tốt.”       ( Trích  “Bản án chế độ thực dân Pháp”, 1925).
Với âm mưu để dễ cai trị và đàn áp bóc lột, thực dân Pháp đã vạch ra “chính sách ngu dân” khiến trên 90% dân số cả nước bị mù chữ. Trung bình một vạn dân thì chỉ có 115 học sinh vỡ lòng; 210 học sinh tiểu học và 2 học sinh chuyên nghiệp và đại học.
Dã man hơn, chúng thường đặt  ra những luật lệ vô tội vạ, hết sức khắc nghiệt, cho phép các nhà cầm quyền hễ ngứa tay thì phạt vạ, tống tù và kèm theo thảm sát đẫm máu. “Khi bọn lính kéo đến, tất cả dân chúng đều chạy trốn, chỉ còn lại hai cụ già, một thiếu nữ, một thiếu phụ đang cho đứa con mới đẻ bú và tay dắt một em gái lên tám. Bọn lính đòi tiền, rượu và thuốc phiện. Vì không ai hiểu tiếng Pháp nên chúng nổi giận, lấy báng súng đánh chết một cụ già. Còn cụ già kia thì bị hai tên lính, khi đến đã say mềm, đem thiêu sống trong một đống lửa hàng mấy giờ liền để làm trò vui với nhau. Trong khi đó thì những tên khác thay phiên nhau hiếp cô thiếu nữ, người mẹ và đứa con gái nhỏ của bà. Xong, chúng vật ngửa cô thiếu nữ ra, trói lại, nhét giẻ vào miệng, rồi một tên cầm lưỡi lê đâm vào bụng cô, chặt ngón tay cô để lấy chiếc nhẫn và cắt đầu cô để lột cái vòng cổ. 
Trên đám đất bằng phẳng trước kia là ruộng muối, ba cái xác chết nằm đó: Một em bé bị lột trần truồng, một thiếu nữ ruột gan lòi ra, cánh tay trái cứng đờ giơ nắm tay lên chĩa vào ông trời vô tình, một xác cụ già ghê rợn khủng khiếp, thân thể trần truồng, mặt mũi cháy không nhận ra được nữa, mỡ chảy lênh láng đã đông lại da bụng phồng lên, láng xầy, vàng óng như da lợn quay…” ( Trích “Bản án chế độ thực dân Pháp”, 1925).
Ngoài ra, các tác phẩm “Con rồng tre” ( xuất bản 1922): “ Lời than vãn của bà Trưng Trắc” ( xuất bản 1922) phản ánh, mỉa mai ông Vua Khải Định, một ông vua bù nhìn bán nước.
Trong “Bản tuyên ngôn độc lập”, Hồ Chí Minh lại một lần nữa vạch trần những âm mưu thâm độc, những luật pháp dã man của thực dân Pháp: “ Chúng lập ra ba chế độ khác nhau của miền Trung, Nam, Bắc để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu…
 Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói”.( Trích “Bản tuyên ngôn độc lập”,).
 Cũng trong Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh khẳng định toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững độc lập thống nhất. Đối với Hồ Chí Minh, độc lập tự do gắn bó chặt chẽ với sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, Bắc, Trung, Nam là một, không thể phân chia.
 Báo cáo tại Hội nghị lần thứ sáu (khoá II), Hồ Chí Minh vạch rõ: “Mỹ không những là kẻ thù của nhân dân thế giới, mà Mỹ đang biến thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Việt, Miên, Lào”. Âm mưu chia cắt lâu dài đất nước của kẻ thù mới thâm độc, xảo quyệt hơn, trắng trợn, lộ liễu hơn. Nhưng tất cả mọi âm mưu thủ đoạn đó đều bị Hồ Chí Minh vạch trần, bác bỏ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng phát biểu: "Vì Mỹ mà đất nước chúng tôi bị chia cắt làm đôi, đồng bào miền Nam chúng tôi đang lâm vào tình cảnh đau thương, nước sôi lửa bỏng. Vì Mỹ mà miền Nam Việt Nam có những tòa án phát xít, những luật lệ bạo ngược, những máy chém lưu động giết người khắp thành thị và thôn quê, có những trại giam khổng lồ, giam cầm và tra tấn hàng chục vạn người, giết chết hàng vạn người yêu hòa bình và yêu Tổ quốc. Vì Mỹ mà có những sư đoàn, binh lính với máy bay, xe tăng và đại pháo Mỹ đi càn quét liên miên, giết hại thường dân, đốt phá làng mạc. Nói tóm lại vì Mỹ mà miền Nam Việt Nam biến thành địa ngục trần gian".           ( Trích trong cuốn Hồ Chí Minh nói về tội ác chiến tranh xâm lược, Nhà  xuất bản trẻ, 2004).
Người dùng báo chí để đấu tranh và giải phóng dân tộc
Năm 1911, chàng thanh niên  Nguyễn Tất Thành lúc ấy vừa tròn 21 tuổi, rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước. Trong những năm tháng bôn ba khắp năm Châu bốn biển để đi tìm chân lý với mục đích cao cả là giải phóng cho đồng bào dân tộc Việt Nam thoát khỏi ách áp bức bóc lột của Chủ nghĩa thực dân và bọn Tư sản cầm quyền. Hồ Chí Minh đã xin gia nhập nhiều tổ chức Đảng và Hội những người yêu nước ở nước ngoài như: Gia nhập Đảng Xã hội Pháp(2/1919) và thay mặt Hội những người An Nam yêu nước, Nguyễn Tất Thành đã gửi tới “Hội nghị Hòa Bình Versailles”  “Bản yêu sách của người dân An Nam” với mục đích đòi quyền tự do và bình đẳng cho các dân tộc ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam nhưng không được tán thành. Thất bại của Hội Nghị Versailles trong giải quyết các vấn đề thuộc địa đã đẩy niềm tin của Nguyễn Tất Thành sang Chủ nghĩa Cộng sản.
Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc “Luận cương về vấn dân tộc và thuộc địa của Lên Nin”, từ đó ông hoàn toàn tin tưởng vào Chủ nghĩa Cộng sản. Người tham dự Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp tại Tours với tư cách là đại biểu Đông Dương của Đảng Xã hội Pháp, ông trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng cộng sản Pháp và tách khỏi Đảng Xã hội Pháp. Năm 1921, Người cùng một số nhà yêu nước của các thuộc địa của Pháp lập ra Hội liên hiệp Thuộc địa ( Union intercoloniale - Association des indigenesd de toutes les colonies)  nhằm tập hợp các dân tộc bị áp bức đứng lên chống Chủ nghĩa Đế quốc và Chủ nghĩa Thực dân.
Năm 1922, Người cùng một số nhà cách mạng thuộc địa lập ra tờ báo Leparia ( Người cùng khổ) làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, mục đích là tố cáo chính sách đàn áp, bóc lột của Chủ nghĩa Đế quốc nói chung và Thực dân Pháp nói riêng.  Bác Hồ đã viết 38 tác phẩm đăng trên tờ báo này, tiêu biểu nhất và nổi tiếng nhất là “ Bản án chế độ Thực dân Pháp”. Từ đây, Bác luôn quan tâm và chú trọng đến báo chí và coi báo chí là một thứ vũ khí sắc bén nhất trong phong trào đấu tranh giai cấp bóc lột và cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc cho các nước thuộc địa trên thế giới. Đây cũng là thời cơ để truyền bá tư tưởng  Chủ nghĩa Mác - Lê Nin vào Việt Nam để giải phóng dân tộc thoát khỏi xiềng xích áp bức bóc lột của Thực dân Pháp xâm lược.
Bên cạnh các trang viết sắc sảo, ngắn gọn, châm biếm sâu cay. Nguyễn Ái Quốc còn là cây bút vẽ tranh minh họa, tranh biếm họa với nét vẽ giản dị và thâm thúy. Hầu hết tranh biếm họa đăng trên báo đều trực tiếp đề cập đến vấn đề thời sự xã hội ở thời kỳ đó, cụ thể như tội ác của Chủ nghĩa thực dân, áp bức, nô dịch văn hóa, phân biệt chủng tộc…Tiêu biểu nhất là một bức tranh mà Nguyễn Ái Quốc phác họa nên hình ảnh một người dân An Nam gầy gò đội nón lá, quần áo rách rưới đang phải gò lưng kéo một ông Tây béo tròn, nằm ngửa, mồm phì phèo điếu xì gà. Lời quát tháo người phu xe được chú thích dưới bức tranh bằng 3 thứ tiếng Pháp, Tây Ban Nha và Việt Nam. Bức tranh chứa đựng giá trị nhân văn và tố cáo tội ác một cách mãnh liệt.
Cuối năm 1924, Bác về Quảng Châu ( Trung Quốc) tổ chức huấn luyện cán bộ Cách mạng Việt Nam, thành lập Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội và sáng lập ra tờ báo Thanh Niên, là cơ quan ngôn luận của Hội. Báo Thanh Niên chính thức ra mắt với bạn đọc ngày 21/6/1925. Đây là tờ báo đầu tiên ở Việt Nam do Bác Hồ thành lập và đây cũng là cột mốc quan trọng đánh dấu sự nghiệp phát triển nền báo chí Cách mạng Việt Nam. Do vậy, ngày 21/6 hàng năm đã trở thành ngày truyền thống của báo chí Cách mạng Việt Nam.
Theo tài liệu “Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí Cách mạng” của Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương ( nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) và Hội nhà báo Việt Nam, Hồ Chí Minh đã sáng lập ra 9 tờ báo, đó là: Người cùng khổ ( 1922); Quốc tế nông dân (1924); Thanh niên (1925); Lính Kách mệnh ( 1925, tiền thân của báo Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay); Thân ái ( 1928); Đỏ (1929); Việt Nam độc lập ( 1941); Cứu quốc ( 1942).
Những tờ báo mà Bác để lại đến nay vẫn còn nguyên giá trị lịch sử. Cả cuộc đời làm báo, Bác đã để lại cho thế hệ chúng ta hơn 2000 tác phẩm báo chí, gần 300 bài thơ, gần 500 trang truyện và ký. Hồ Chí minh viết nhiều thể loại như: Chính luận, tiểu phẩm, truyện, ký, thơ...Các tác phẩm của Người đã được đăng tải trên hàng trăm tờ báo, tạp chí trong và ngoài nước. Người dùng báo chí để lên án Chủ nghĩa thực dân, vạch trần tội ác của chúng tại các nước thuộc địa, đồng thời nung nấu lòng căm thù của nhân dân các nước thuộc địa đối với bọn Đế quốc xâm lược, kêu gọi họ vùng lên đấu tranh đòi quyền sống, quyền con người, quyền tự do -  bình đẳng - bác ái cho dân tộc. Ở lĩnh vực nào, góc độ nào, phong cách báo chí của Người cũng toát lên sự sắc sảo, trung thực, tính chiến đấu và đầy ắp lòng vị tha, khoan dung
 Xứng đáng là nhà  báo của nhân dân.
Bác Hồ chưa bao giờ gọi mình là nhà báo mà chỉ khiêm tốn nhận mình là người say mê báo chí. Tại Đại hội lần thứ II của Hội Nhà báo Việt Nam. Người nhắc nhở: “Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hòa bình thế giới. Chính vì thế cho nên tất cả những người làm báo (người viết, người in, người sửa bài, người phát hành...) phải có lập trường chính trị vững chắc... Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên phải có tính quần chúng và tinh thần chiến đấu”.( Trích Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9, NXB CTQG, 2000, Sđd Tr 412,414).
Bác cho rằng, một tờ báo không có tính chiến đấu là tờ báo không có linh hồn. Một tờ báo chỉ nói những điều ngoài lề cuộc sống, những điều chẳng những không cổ vũ được mà còn làm nản tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ cách mạng thì tuyệt nhiên không phải là tờ báo cách mạng. Nhà báo phải tự đặt cho mình câu hỏi: “Viết cái gì, viết cho ai, viết để làm gì?”.
 Báo chí và các nhà báo cách mạng không những phải phản ánh các sự kiện xảy ra hàng ngày trong xã hội, phản ánh các chính sách phát huy quyền dân chủ của nhân dân, nhưng đồng thời phải chống lại các luận điệu xuyên tạc, phản động của kẻ thù. Bên cạnh đó, trước những cái xấu, cái sai trong xã hội, trong Đảng, trong đội ngũ cán bộ, công chức và trong nhân dân báo chí phải đấu tranh một cách trung thực và khách quan. Các nhà báo cách mạng trước thềm đổi mới và hội nhập như hiện nay đã vượt qua những cám dỗ, thậm chí cả sự đe dọa đến tính mạng của bản thân và gia đình để đấu tranh vạch trần những vụ tiêu cực đến nay vẫn còn dư luận trong nhân dân như vụ án Năm Cam, vụ PMU 18, vụ đất đai ở Đồ Sơn Hải Phòng, ngoài ra còn báo chí Việt Nam còn phanh phui nhiều vấn đề ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe nhân dân như  vấn đề “vệ sinh an toàn thực phẩm”, tham nhũng, buôn lậu trái phép… Nếu không có sự đấu tranh trung thực của báo chí, chắc có những vụ không được phanh phui... Các nhà báo trong quá trình “ tác nghiệp” cũng phải thực sự có dũng khí để vượt qua chính mình, vượt qua sự cám dỗ ở đời thường mới có thể không bị “ bẻ cong” ngòi bút.
Tính đến nay, cả nước có khoảng có 786 cơ quan báo chí in với 1.016 ấn phẩm. Trong đó báo có 194 cơ quan (gồm 81 báo chí Trung ương, 113 báo địa phương); tạp chí có 592 cơ quan (475 tạp chí Trung ương và 117 tạp chí địa phương).
Toàn quốc có 67 đài Phát thanh truyền hình Trung ương và địa phương, trong đó có 2 đài quốc gia, 1 đài truyền hình kỹ thuật số, 64 Đài Phát thanh, truyền hình cấp tỉnh.
Trong lĩnh vực thông tin điện tử, cả nước có 61 báo, tạp chí điện tử, 191 mạng xã hội, hơn 1.000 trang thông tin điện tử tổng hợp.
Cả nước có gần 17.000 nhà báo được cấp thẻ hành nghề, hàng nghìn phóng viên đang hoạt động báo chí chuẩn bị đến thời hạn cấp thẻ.
Thực hiện đúng lời dạy của Bác, sự nghiệp báo chí cách mạng Việt Nam không ngừng phát triển cả nội dung và hình thức, các nhà báo cũng luôn xứng danh là người “ Chiến sĩ cách mạng trên mặt trận Văn hóa, Tư tưởng. Và cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”.
 
Bài viết: Bùi Thị Thu Hường
(Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương)