Chủ tịch Hồ Chí Minh với Công giáo

Nguyễn Thị Thu Hằng
Phòng Hành chính, Tổng hợp

Trên nền tảng chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa cộng sản, sinh  thời,  Chủ  tịch  Hồ  Chí Minh luôn tìm kiếm, phát huy tối đa sự tương đồng giữa các hệ tư tưởng vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Người cho rằng: “Khổng Tử, Giê su, Mác, Tôn Dật Tiên đều mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết”(1). Đây là luận điểm quan trọng được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng để giải quyết các vấn đề liên quan đến tôn giáo nói chung và công giáo nói riêng. Đối với công giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành nhiều sự quan tâm và theo quan điểm của Người, các giá trị nhân bản của Thiên Chúa hiểu theo nghĩa rộng đều phù hợp tinh thần thời đại cách mạng.
Trên cương vị người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định chính sách nhất quán tôn trọng tự do tín ngưỡng và đề cao hòa hợp tôn giáo trong đoàn kết dân tộc
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề đoàn kết, nhấn mạnh đoàn kết tôn giáo là vấn đề then chốt để tăng sức mạnh dân tộc. Ngày 03-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nhiệm vụ cấp bách thứ 6 cần giải quyết là: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương để dễ bề thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: tự do tín ngưỡng và Lương Giáo đoàn kết”(2) vì lương giáo đoàn kết, toàn dân đoàn kết, cả nước một lòng, nhân dân ta nhất định sẽ thắng lợi trong công cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình, thống nhất Tổ quốc và xây dựng một nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh. Trong thư gửi đồng bào công giáo ngày 14-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Nước nhà ta đang đứng trước một tình thế rất nghiêm trọng. Dân tộc ta suy hay thịnh, mất hay còn chính là ở trong lúc này. Không đoàn kết thì suy và mất. Có đoàn kết thì thịnh và còn. Chúng ta phải lấy đoàn kết mà xoay vần vận mệnh, giữ gìn dân tộc và bảo vệ nước nhà”(3).
Các sắc lệnh của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thể hiện rõ sự nhất quán trong chính sách tự do tín ngưỡng. Điều 1 Sắc lệnh 22/SL ký ngày 18-2-1946 nêu: “Những ngày tết, kỷ niệm lịch sử và lễ tôn giáo ấn định trong bản đính kèm theo bản Sắc lệnh này sẽ được coi là ngày lễ chính thức. Trong những ngày ấy, các công sở toàn quốc sẽ đóng cửa và sẽ cử nhân viên để phụ trách công việc thường trực” và trong 6 ngày lễ tôn giáo quy định tại Sắc lệnh, công giáo có 3 ngày Lễ Phục sinh, Lễ Các Thánh và Lễ Giáng sinh. Sắc lệnh 234/SL ngày 14-6-1955 của Chính phủ về vấn đề tôn giáo quy định về quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân, quyền của các Giáo hội tham gia vào hoạt động xã hội và các sinh hoạt tôn giáo riêng của mình. Điều 25, Luật cải cách ruộng đất quy định: “Nhà Chung, nhà chùa, từ đường họ và các cơ quan tôn giáo khác được để lại một phần ruộng đất để dùng vào việc thờ cúng... Những người làm nghề tôn giáo nếu không đủ sống, đủ sức cày cấy và yêu cầu thì được chia một phần ruộng đất ở nơi họ hoạt động hoặc quê quán họ”. Có thể khẳng định, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tôn giáo nói chung và công giáo nói riêng luôn nhất quán trên nền tảng chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn sâu sắc và tư tưởng của Người đến nay vẫn là cơ sở quan trọng soạn thảo văn bản pháp lý về tôn giáo.
Kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, một số nơi xảy ra xung đột giữa đồng bào lương và giáo, thực dân Pháp dựa vào đó vu cáo Việt Minh đàn áp giáo dân, kích động một số vị lãnh đạo tôn giáo ở cơ sở. Nhận được kháng thư của Giám mục Lê Hữu Từ, ngày 01-02-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi phúc đáp khẳng định tinh thần đại đoàn kết, toàn dân không phân lương giáo, chỉ một tâm lo chống ngoại xâm: “Trong Hiến pháp ta đã định rõ: Tín ngưỡng tự do. Nếu ai làm sai Hiến pháp, khiêu khích công giáo thì sẽ bị phạt. Chắc cụ không bao giờ tin rằng Việt Minh chống đạo vì cụ thừa biết Việt Nam độc lập đồng minh là cốt đoàn kết tất cả đồng bào để làm cho Tổ quốc độc lập, chứ không phải để chia rẽ, phản đối tôn giáo. Mà tôi cũng không bao giờ nghi rằng đồng bào công giáo chống Việt Minh, vì hơn ai hết, đồng bào công giáo càng mong cho Tổ quốc độc lập, cho tôn giáo được hoàn toàn tự do và tôi chắc ai cũng tuân theo khẩu hiệu: Phụng sự Thượng đế và Tổ quốc. Những sự xích mích nhỏ giữa một số đồng bào, tuy là đáng tiếc, vì đạo đức giáo hoá chưa được phổ cập, không thể động chạm đến sự đại đoàn kết của chúng ta”. Người đau lòng khi biết có kẻ lợi dụng chủ trương tự do tín ngưỡng của Nhà nước chống phá cách mạng, chia rẽ khối đoàn kết lương giáo, làm ảnh hưởng đến lòng yêu nước, kính chúa của giáo dân. Người căm giận khi kẻ thù xâm phạm tự do tín ngưỡng công giáo, giết hại giáo dân, bắn phá nhà thờ ở Nam Định, Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh. Người bao dung, độ lượng với người bị địch lợi dụng, có hành động chống lại cách mạng nay hối cải quay về. Trong thư gửi các hàng giáo sĩ và đồng bào công giáo nhân dịp lễ Thiên Chúa giáng sinh ngày 25-12-1956, Người viết: “Tôi tỏ lòng khen ngợi các hàng giáo sĩ và đồng bào đã thân ái giúp đỡ cán bộ sửa chữa sai lầm, thực hiện đúng chính sách tôn trọng tự do, tín ngưỡng của Chính phủ”.
Ông Nguyễn Kim Côn, một người Công giáo, chuyên chụp ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh kể: “Sáng 02-12-1959, tôi được đi cùng Bác Hồ đến thăm đồng bào Công giáo thôn Thạch Bích, Hà Đông. Dư âm cuộc di cư vào Nam năm 1954 còn khá nặng nề vì các cha đi Nam và “Chúa cũng đi Nam” mất rồi. Như vậy thì đời sống, đức tin và sinh hoạt tôn giáo sẽ ra sao? Biết điều này, Bác muốn đến tận nơi để động viên bà con giáo dân. Sau khi thăm hỏi việc đồng áng, Bác đi thẳng vào vấn đề: “Chúa ở khắp mọi nơi, ở trên trời, dưới đất và cả hỏa ngục nữa – có đúng không?”. “Thưa Bác đúng ạ!”. Bác lại hỏi:
-           Chúa ở khắp mọi nơi thì sao lại bảo Chúa đi Nam, có đúng không?
-           Đúng ạ!
-           Thế thì Đảng ta ngày đêm lo sao cho hợp tác xã có năng suất cao, sao cho các gia đình giáo dân được no ấm, các cháu đến tuổi đi học được cắp sách đến trường, người lớn chưa được biết chữ thì học bình dân học vụ. Sớm, tối chuông nhà thờ vẫn ngân vang để bà con bình an thờ phụng Chúa. Đảng ta làm như vậy có đúng không?... Nếu Chúa còn sống đến bây giờ thì Chúa cũng làm cộng sản”(4). Với tư tưởng hòa hợp tôn giáo để đoàn kết toàn dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gợi mở thêm tinh thần thời đại mới trong giá trị nhân văn cao đẹp của tín ngưỡng công giáo để đồng bào hiểu và góp sức vào sự nghiệp chung.
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, chia sẻ mọi mặt đời sống vật chất, tinh thần với đồng bào công giáo
Đặc biệt sâu sát với cơ sở, Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm hiểu kỹ tình hình đồng bào công giáo, nhắc nhở cán bộ quan tâm đến đồng bào. Tháng 4-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua thị xã Ninh Bình xuống Phát Diệm. Vào Uỷ ban hành chính tỉnh, Người hỏi tình hình đời sống của đồng bào công giáo và dặn phải chú ý đoàn kết lương giáo, động viên bà con tích cực tăng gia sản xuất chống đói, diệt giặc dốt, mở nhiều lớp bình dân học vụ, vận động bà con đi học. Ngày 26-3-1962, nói chuyện với nhân dân tỉnh Thái Bình, Người lấy ví dụ những hợp tác xã của đồng bào công giáo phát triển rất tốt: “Ngay ở tỉnh nhà, hợp tác xã Xứ Riến lúc thành lập (mùa thu 1959) chỉ có 5 hộ, nay đã tăng đến 65 hộ. Năng suất mỗi mùa mỗi tăng, đời sống xã viên được cải thiện rõ rệt. Vì vậy mà bà con ngày càng tin tưởng và gắn bó với hợp tác xã. Hợp tác xã Ngọc Sơn (Thanh Hóa) lúc đầu chỉ có 13 hộ, nay đã tiến lên toàn thôn. Thu hoạch có hộ gấp rưỡi, có hộ gấp đôi”. Người phê bình: “Hợp tác xã của đồng bào công giáo phát triển chậm. Nguyên nhân là do lãnh đạo và cán bộ không đi sâu đi sát”(5).
Đối với các linh mục, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tạo điều kiện để các vị thực hiện nhiệm vụ của Nhà Chung. Năm 1949, Linh mục Nguyễn Văn Ngọc, đảm đương công việc ruộng đất Nhà Chung tại giáo xứ Lương Văn, có trách nhiệm cung cấp lương thực cho 600 linh mục, chúng sinh dòng tu nam, nữ của thành phố. Huế bị bao vây, không chở được lúa gạo cho Nhà Chung, nghe lời khuyên của cán bộ Việt Minh, linh mục viết thư xin phép Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau đó, linh mục nhận được thiếp có chữ ký và dấu của Người:
1.         Cho phép linh mục Nguyễn Văn Ngọc được phép chở 9.000 thúng lúa lên thành phố Huế trong vòng một tháng để trợ cấp cho Nhà Chung.
2.         Linh mục Ngọc được tự do đi lại trong tỉnh Thừa Thiên để coi sóc ruộng đất của Nhà Chung, tiếp tục trồng cấy, không được để ruộng đất bỏ hoang(6).
Tháng 4-1955, trả lời cụ quyền Giám mục Lê Khanh về việc sửa chữa Nhà Chung, Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ lo lắng “vì cụ tuổi già sức yếu, nếu làm phiền cụ phải đi xa mệt nhọc, tôi không yên lòng” và đề nghị “cụ bàn với Ban Hành chính huyện địa phương”, nếu có vấn đề gì khó giải quyết thì “xin cụ viết thư rồi cho người thân tín của cụ đưa đến cho tôi. Tôi sẽ sẵn sàng nghiên cứu và trả lời cụ”(7).
Trước những mất mát của đồng bào công giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, chia sẻ với nỗi xót xa máu chảy ruột mềm và kêu gọi trong đau thương càng cần nêu cao tinh thần quật khởi chiến đấu. Ngày 19- 12-1949, trong thư gửi đồng bào công giáo toàn quốc dịp Lễ Noel, Người bày tỏ niềm xúc động nhớ đến đồng bào công giáo đau thương dưới gót giày xâm lược: “Chúng ta ăn tết Noel trong sự đau thương vì giặc Pháp tấn công Phát Diệm đã xâm phạm đến đất thánh ta, vì đồng bào công giáo Phát Diệm, Bùi Chu và nhiều nơi khác đang đau khổ dưới gót sắt của giặc Pháp dã man. Vậy trong tết Noel này, chúng ta phải nhớ đến đồng bào trong những nơi ấy”. Ngày 21-7-1968, máy bay Mỹ ném bom bắn phá Xã Đoài (Nghi Lộc, Nghệ An), Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện thăm hỏi: “Tôi rất động lòng khi được tin ngày 21-7 vừa qua, máy bay giặc Mỹ lại ném bom, bắn phá Xã Đoài làm hai cụ Giám mục, ba vị linh mục bị thương, một số tu sĩ và đồng bào giáo và lương bị thương và hy sinh, nhà thờ bị phá hỏng, hàng trăm nhà dân bị phá hủy. Tôi gửi lời chúc sức khoẻ hai cụ Chánh và Phó giám mục mau trở lại bình thường. Tôi gửi lời thăm hỏi và an ủi các vị linh mục, tu sĩ và các gia đình đồng bào bị nạn”. Người cũng không quên gửi điện, thư chia buồn khi biết tin có vị linh mục, giám mục qua đời. Khi giám mục Hồ Ngọc Cẩn qua đời ngày 27-11-1948, Người gửi điện cho giáo phận Bùi Chu: “Tôi rất lấy làm đau đớn được tin Đức Giám mục Hồ Ngọc Cẩn đã từ trần. Tiếc vì chiến sự, tôi không thể về dự đám tang Đức Giám mục. Tôi nhờ Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu 3 thay mặt đến dự lễ và chia buồn cùng đồng bào công giáo địa phận Bùi Chu”. Những ngày tiếp quản Thủ đô công việc rất cấp bách, không thể dự an táng linh mục Phạm Bá Trực ở Thái Nguyên, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết điếu văn và cử Bộ trưởng Phan Anh thay mặt đọc tại buổi lễ. Lời điếu được đăng trang trọng trên báo Nhân dân ngày 11-12/10/1954: “Từ ngày nhân dân tin cậy cử Cụ làm Ðại biểu Quốc hội và Quốc hội cử Cụ vào Ban Thường trực, Cụ đã đưa hết tinh thần và lực lượng giúp Chính phủ trong mọi vấn đề quan trọng. Trong mọi việc, Cụ đã kết hợp đạo đức bác ái theo lời Chúa dạy, với tinh thần nồng nàn yêu nước của người đại biểu chân chính cho nhân dân Việt Nam. Nay, Cụ mất đi, Chính phủ và nhân dân vô cùng thương xót. Trong lúc ốm nặng, Cụ thường nói với tôi: Mong trông thấy kháng chiến thắng lợi thì dù chết Cụ cũng thỏa lòng. Nay hòa bình đã trở lại, Cụ đã thỏa lòng. Nhưng tiếc rằng Cụ không còn nữa để giúp nước giúp dân”. Tháng 11- 1965, được tin linh mục Lâm Quang Học, giáo phận Bùi Chu qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện chia buồn và kêu gọi noi gương cụ: “Tôi rất thương tiếc. Tôi gửi lời chân thành chia buồn với đồng bào Công giáo tỉnh nhà... Tôi mong rằng đồng bào Công giáo hãy noi gương tốt của cụ Lâm, đoàn kết chặt chẽ hơn nữa, góp phần xứng đáng cùng toàn dân chống Mỹ, cứu nước thắng lợi”.
Với mối thâm tình, Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ lòng kính trọng không chỉ đối với các vị chức sắc mà với cả đồng bào giáo dân cao tuổi. Trong một bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại biểu công giáo tại Phủ Chủ tịch, duy nhất chỉ có một đại biểu là cụ Hà Văn Quận 122 tuổi ngồi ghế. Đây là ghế được chuẩn bị cho Chủ tịch Hồ Chí Minh nhưng Người đã nhường lại cụ già công giáo nhiều tuổi nhất lúc bấy giờ. Có lẽ, tình cảm mến yêu đồng bào công giáo dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là tấm gương phản chiếu cụ thể nhất tấm lòng của Người, như trong thư cảm ơn món quà của Liên đoàn công giáo Thái Bình, Người đã viết: “Các bà phước ngày đêm chăm lo nuôi trẻ con rất khó nhọc còn mất thì giờ thêu cái khung ảnh rất đẹp. Tôi thấy trong từng đường kim, trong mỗi mũi chỉ đã thấm thía bao nhiêu cái tinh thần yêu mến giữa đồng bào Công giáo với tôi”(8).
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tin tưởng, động viên đồng bào công giáo tích cực tham gia vào sự nghiệp cách mạng
Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương hài hòa, đồng thuận giữa mục đích của những người sáng lập tôn giáo nói chung với mục tiêu của cách mạng, trong đó lợi ích, tự do, hạnh phúc của đồng bào giáo dân cũng là của cả dân tộc và chú ý thuyết phục, tạo điều kiện để các giáo sĩ chức sắc, đồng bào công giáo cùng tham gia kháng chiến, kiến quốc. Trong thư trao đổi với Đức Giám mục Phát Diệm ngày 02-3-1947, Người cho biết “hiện có trong tay một số tài liệu. Sau khi xem xét kĩ các tài liệu ấy tôi nhận thấy: đồng bào tôn giáo thù ghét bọn thực dân Pháp và họ rất có lòng yêu nước”. Người khuyến khích khơi dậy ưu điểm của đồng bào công giáo, nhắc nhở xoá định kiến sai lạc và có nhiều việc làm thiết thực khẳng định niềm tin tưởng với đồng bào. Tháng 10-1953, tại Hội nghị cán bộ vùng địch hậu nhằm đoàn kết các lực lượng nhân dân trong kháng chiến chống Pháp, Người khẳng định: “Đồng bào công giáo cũng yêu nước. Nếu ta biết kiên nhẫn thuyết phục giác ngộ, thì nhất định tranh thủ được. Làm được như vậy thì phá được một phần âm mưu của địch và rất có lợi cho việc đoàn kết nhân dân để kháng chiến”(9). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hành động một cách nhất quán với tấm lòng chân thành, có lẽ vì thế, ngay từ buổi đầu Người đã tập hợp được đông đảo đồng bào công giáo trong công cuộc giải phóng và bảo vệ đất nước. Nhiều vị được giao trọng trách trong Chính phủ và Quốc hội như Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội - linh mục Phạm Bá Trực; Bộ trưởng kinh tế Nguyễn Mạnh Hà; Bộ trưởng Y tế - bác sĩ Vũ Đình Tụng...
Mừng Chúa Giáng sinh, ngày 25-12- 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi gắn nhiệm vụ cách mạng với lý tưởng của những người sáng lập ra công giáo, động viên đồng bào tham gia đấu tranh: “Cuộc kháng chiến cứu nước đang chuyển sang giai đoạn mới, đồng bào càng phải vì Đức Chúa, vì Tổ quốc mà đoàn kết chặt chẽ hơn nữa, kháng chiến hǎng hái hơn nữa, để sớm đến ngày thắng lợi và thái bình”(10). Người vui lòng khi thấy đồng bào có thành tích vẻ vang đối với Tổ quốc. Ngày 17-9- 1964, trong thư gửi Hội nghị Đại biểu đồng bào theo đạo Thiên chúa toàn miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh “rất vui lòng thấy đồng bào công giáo các giới hǎng hái tham gia mọi công việc xây dựng nước nhà, 80% đồng bào nông dân theo đạo Thiên Chúa đã vào hợp tác xã nông nghiệp và đời sống ngày thêm cải thiện. Các cháu công giáo được học hành ngày càng đông và càng tiến bộ. Kinh thánh có câu: “Ý dân là ý Chúa”. Con đường yêu nước mà đồng bào đang đi là hoàn toàn đúng. Tôi mong các cụ phụ lão, các vị giám mục và linh mục hǎng hái khuyến khích tín đồ trong mọi công việc ích nước, lợi dân”.
Xứng đáng với niềm tin của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào giáo dân, các vị linh mục, giám mục mọi miền có nhiều việc làm góp sức vào sự nghiệp cách mạng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kịp thời động viên, khen thưởng những thành tích này. Người viết thư cho Đức cha Hồ Ngọc Cẩn, Giám mục Bùi Chu cảm ơn đã ủng hộ dây chuyền vàng cho Chính phủ trong “tuần lễ vàng” và linh mục Lê Văn Yên ở Bắc Ninh đã luôn luôn ra sức củng cố tinh thần đại đoàn kết giữa đồng bào lương và giáo... tận tâm chăm sóc thương binh. Người kí Sắc lệnh 32/SL ngày 25-4-1949 tặng huy chương độc lập hạng nhì cho linh mục Nguyễn Bá Luật vì thành tích “Vận động và hướng dẫn đồng bào Công giáo tích cực tham gia kháng chiến”. Người biểu dương, tặng huy hiệu các giáo dân như cụ Hà Văn Quận (Nghệ An), cụ Nguyễn Hữu Tiến (Hà Bắc); chị Vũ Thị Mến (Ninh Bình)... Nhiều xứ họ, địa phương đông giáo dân lập được thành tích trong sản xuất, chiến đấu cũng nhận được thư khen và phần thưởng khích lệ kịp thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nhắc đến ưu điểm trong tư tưởng của Khổng Tử, đạo Thiên chúa, chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Tôn Dật Tiên đã khiêm tốn nhận “cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”(11) nhưng cuối cùng ở Người lại có “sự kết hợp đức khôn ngoan của Đức Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học của Mác, thiên tài cách mạng của Lênin và tình cảm của một người chủ gia tộc, tất cả bao bọc trong một dáng dấp tự nhiên”(12). Người là biểu tượng cao đẹp của mối tình đoàn kết lương giáo, đoàn kết dân tộc vì sự nghiệp chung. Những phẩm chất này của Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải bẩm sinh, mà như tất cả, Người phải không ngừng học tập, lao động, chiến đấu và tấm gương của Người mãi mãi soi sáng, nâng cao tâm hồn các thế hệ người Việt Nam nói chung và đồng bào công giáo nói riêng.

Chú thích:
1.         Hồ Chí Minh: Truyện (Bản dịch Trung văn của Trương Niêm Thức. Bát Nguyệt xuất bản xã Thượng Hải xuất bản, 1949). Dẫn theo Phan Văn Các. Nho giáo xưa và nay. Nxb Khoa học xã hội, H.1991
2.         Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Văn học, Hà Nội 1969, tr116-117
3.         Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2011, tập IV, tr.55
4.         Báo Hà Nội mới, ngày 12/9/2008
5.         Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, t.10, tr.534-537
6.         Kể chuyện Bác Hồ, Nxb. Giáo dục, 2006, tập 2, tr.126
7.         Bản photo bút tích lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh
8.         “Hồ Chí Minh với đồng bào Công giáo”, website Ban Tôn giáo Chính phủ http://btgcp.gov.vn/Plus. aspx/vi/News/38/0/240/0/1745/Ho_Chi_Minh_ voi_dong_bao_Cong_giao_
9.         Tài liệu lưu tại Trung tâm lưu trữ quốc gia I. 10. Báo Cứu quốc, số 1718, ngày 25/12/1950
11.       Hồ Chí Minh: Truyện (Bản dịch Trung văn của Trương Niêm Thức. Bát Nguyệt xuất bản xã Thượng Hải xuất bản, 1949). Dẫn theo Phan Văn Các. Nho giáo xưa và nay. Nxb Khoa học xã hội, H.1991
12.       Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh - một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, Nxb. Sự thật, H.1995, t.1, tr.27