chủ tịch Hồ Chí Minh với việc xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân

Th.s Văn Thị Thanh Hương
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
 
Trong lịch sử Việt Nam hiện đại, sự kiện nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà (DCCH) ra đời ngày 2/9/1945 là một sự kiện lịch sử trọng đại, gắn liền với tên tuổi Hồ Chí Minh, với bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử.
 1. Hành trình tìm đường cứu nước đã đưa Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác Lênin, đến với con đường cứu nước trong thời đại mới – con đường cách mạng vô sản, đồng thời cũng giúp Người có điều kiện nghiên cứu các cuộc cách mạng trên thế giới, trong đó có cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ và cách mạng tháng Mười Nga. Từ đó, Người thấy rõ tính không triệt để của cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ và cho rằng, lời lẽ trong Tuyên ngôn của cách mạng tư sản rất hay, và quyền con người cũng từng được đề cập đến trong các văn bản pháp lý quan trọng như Tuyên ngôn và Hiến pháp, nhưng trong thực tế “Chính phủ Mỹ lại không muốn cho ai nói đến cách mệnh, ai đụng đến Chính phủ”[1] và ở nước Pháp, “cách mệnh cũng đã 4 lần rồi mà nay công nông Pháp hãy còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức”[2]. Bởi vì, đó là nhà nước tư sản, nhà nước của những người hữu sản, và nền dân chủ tư sản không thể mang lại quyền lợi cho đông đảo những người lao động. Đó là chính quyền của “số ít”, quyền lực tập trung vào số ít, nên vẫn còn áp bức, bất công và đối kháng. Hồ Chí Minh mong muốn trong tương lai sẽ xây dựng một nhà nước theo mô hình tổ chức nhà nước Nga Xôviết, nhà nước “dân chúng số nhiều” với các Xôviết công nông binh.
 Từng bước hiện thực hoá khát vọng đó, các văn kiện do Người soạn thảo được thông qua ở Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản đầu năm 1930 đã ghi rõ: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập và dựng ra Chính phủ công nông binh”[3]. Ngay sau đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào đấu tranh của nhân dân Nghệ An – Hà Tĩnh những năm 1930 -1931 đã dẫn đến sự ra đời của chính quyền Xô viết. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy: khẩu hiệu “trí, phú, địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” và sách lược phân hoá kẻ thù một cách cứng nhắc đã là một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của phong trào Xô Viết. Cùng với việc cao trào cách mạng những năm 1930 –1931 bị thực dân Pháp đàn áp, mô hình “Chính phủ công nông binh” mà chính quyền Xô viết là một kiểm nghiệm có lẽ chưa thật phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Sự tồn tại ngắn ngủi của chính quyền Xô Viết – Nghệ Tĩnh, thực tiễn chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước và việc kế thừa truyền thống “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước” (được luận giải trong Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ năm 1924 của Nguyễn ái Quốc) đã trở thành cơ sở để Người và Đảng ta điều chỉnh việc lựa chọn hình thức Nhà nước cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Trở về trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng cả nước (28/1/1941), tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5/1941) Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã quyết định thay đổi chiến lược cách mạng một cách đúng đắn, kịp thời, sáng tạo. Xác định rõ: Cuộc cách mạng ở Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, nhằm giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng”, và “sau lúc đánh đuổi được Pháp - Nhật sẽ thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần tân dân chủ. Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào mà của chung của toàn thể dân tộc ”[4], Bản chương trình Việt Minh nhấn mạnh: “Sẽ thành lập một chính phủ nhân dân của nước Việt Nam DCCH lấy lá cờ đỏ sao vàng năm cánh làm lá cờ toàn quốc. Chính phủ ấy do Quốc dân Đại hội cử ra”[5].
Đến giữa tháng 8/1945, cao trào kháng Nhật cứu nước phát triển đến đỉnh cao. Ngày 14/8/1945, Nhật đã tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Trong bối cảnh cơ hội có một không hai và những điều kiện khởi nghĩa đã chín muồi, Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào (13 - 15/8/1945), quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc, giành lấy chính quyền, thi hành Mười chính sách Việt Minh, lập nên một nước Việt Nam DCCH hoàn toàn độc lập trước khi quân Đồng minh kéo vào Đông Dương giải giáp quân đội Nhật. Hội nghị quyết định thành lập Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc để thống nhất chỉ huy cuộc chiến đấu, ra Quân lệnh số 1, hạ lệnh Tổng khởi nghĩa trong cả nước. Và ngay chiều ngày 16/8/1945, Quốc dân Đại hội đã khai mạc tại đình Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang (Quốc dân Đại hội Tân Trào) nhất trí ủng hộ đề nghị của Đảng Cộng sản Đông Dương về việc phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn quốc và cử ra Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam” (do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch - TG. nhấn mạnh).
 Từ việc xác định rõ kẻ thù trực tiếp, tập trung vào mục tiêu giải phóng dân tộc, nhằm phát huy nguồn sức mạnh nội lực của toàn thể dân tộc trong sự nghiệp giải phóng, Hồ Chí Minh và những người cộng sản Việt Nam đã quyết định điều chỉnh việc lựa chọn mô hình nhà nước công nông binh đã đề ra trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng năm 1930, bằng mô hình nhà nước Việt Nam DCCH trong Nghị quyết Trung ương lần thứ Tám. Đây là một bước phát triển mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh về thể chế chính quyền nhà nước, phù hợp với nội dung cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và xu thế của thế giới. Với những điều ghi rõ trong Chương trình và các Văn kiện của Đảng và Việt Minh từ năm 1941-1945, có thể thấy tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền lực của nhân dân được thể hiện qua việc lựa chọn mô hình Chính phủ DCCH - chính quyền của dân do dân và vì dân. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử, khai sinh nước Việt Nam DCCH - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Châu á.
2. Khác với các hình thức nhà nước của bọn phong kiến, thực dân đã từng tồn tại ở Việt Nam, nhà nước Việt Nam DCCH là nhà nước của dân, do dân và vì dân, “tất cả mọi quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam”. Dù đầy khó khăn thử thách, song Người và Chính phủ lâm thời đã kiên quyết thực hiện tư tưởng quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, xúc tiến tổ chức Tổng tuyển với chế độ phổ thông đầu phiếu. “Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội. Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ. Chính phủ đó thật là chính phủ của toàn dân[6]. Cuộc Tổng tuyển cử 6/1/1946 đã thắng lợi. Chính phủ liên hiệp kháng chiến (2/3/1946) và Chính phủ kháng chiến (3/11/1946)do Người làm Chủ tịch, được Quốc hội khoá I chuẩn y.
Thông qua cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu trong cuộc bầu cử Quốc hội khoá I và các kỳ bầu cử Quốc hội sau đó, quyền chính trị của nhân dân được thực thi trong thực tiễn. Tư tưởng quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân của Người còn được thể hiện rõ qua các điều văn của Hiến pháp 1946, 1959 và các Hiến pháp sau đó. Đặc biệt, nhân dân có quyền bầu đại biểu vào Quốc hội, đồng thời cũng có quyền bãi miễn các đại biểu Quốc hội nếu họ không còn xứng đáng (Điều 5, Hiến pháp 1959). Cũng theo Người, nguyên tắc này đảm bảo quyền kiểm soát của nhân dân đối với các đại biểu không chỉ trước khi bầu cử, nhân dân còn kiểm soát được đại biểu sau khi họ đã trúng cử. Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh tới mối quan hệ giữa nhân dân - cử tri và đại biểu Quốc hội. Để đại biểu Quốc hội xứng đáng là người đại diện cho nhân dân trong cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Người yêu cầu các đại biểu phải gần dân, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của dân, phải phản ánh được nguyện vọng, kiến nghị của người dân với Quốc hội.
Nhà nước Việt Nam DCCH là một nhà nước mà Đảng cầm quyền, song dân là chủ. Trong nhà nước đó, cán bộ, công chức là “công bộc”, đầy tớ cho nhân dân chứ không phải đè đầu, cưỡi cổ dân như dưới thời Pháp, Nhật. Không chỉ phải làm cho dân có ăn, có chỗ ở, có mặc và được học hành, Đảng và Nhà nước còn phải yêu dân, kính dân và quán triệt yêu cầu mà Hồ Chí Minh đã từng đề nghị: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”[7]. Phục vụ nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ - đó là nhà nước không có đặc quyền, đặc lợi, thật sự trong sạch, kiên quyết chống các biểu hiện cửa quyền, quan liêu,v v..Song trước những cám dỗ đời thường, một số cán bộ đảng viên đã sa vào cá nhân chủ nghĩa, mắc phải những căn bệnh của “quyền lực”. Biện pháp để sửa chữa sai lầm, khuyết điểm là phải rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, v.v.. và thường xuyên tiến hành tự phê bình và phê bình. Trong suốt 24 năm ở cương vị một nguyên thủ quốc gia, Hồ Chí Minh nhận sự uỷ thác của nhân dân “như một người lính vâng lệnh quốc dân ra mặt trận”, không màng danh lợi và chính Người là tấm gương một người đầy tớ, một công bộc mẫu mực của nhân dân.
Nhà nước Việt Nam DCCH trong những năm kháng chiến chống Pháp, hay là nhà nước Việt Nam DCCH làm nhiệm vụ của chuyên chính vô sản trong những năm cả nước đồng thời thực hiện hai chiến lược cách mạng ở hai miền Nam -Bắc và giờ đây là CHXHCN Việt Nam là nhà nước có tính nhân dân sâu sắc, mang bản chất giai cấp công nhân. Trong tư tưởng của Người, đó là nhà nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo, dựa trên nền tảng đại đoàn kết toàn dân mà nòng cốt là khối liên minh công - nông - trí thức do giai cấp công nhân lãnh đạo. Trong nhà nước có sự phân công giữa 3 quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp để tránh sự chồng chéo, song đều vì một mục đích là phục vụ nhân dân. Không áp dụng lý thuyết xây dựng nhà nước kiểu tư sản hay thuyết tam quyền phân lập, Hồ Chí Minh khẳng định rằng trong nhà nước của dân, do dân, vì dân, các quyền đó phải thống nhất chặt chẽ với nhau - Sự thống nhất quyền lực quán triệt nguyên tắc xuyên suốt: Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ý thức được rất sớm tầm quan trọng của “thần linh pháp quyền” trong việc quản lý xã hội. Đã từng là người dân một nước thuộc địa, từng khát khao có quyền dân chủ, tự do nên Người chú ý xây dựng một hệ thống pháp luật chặt chẽ và khoa học nhằm đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ cho người dân, đồng thời thực thi một cách có hiệu quả trong thực tế. Từ khi tuyên bố thành lập nước ngày 2/9/1945 đến khi Người qua đời 2/9/1969, Hồ Chí Minh và Chính phủ đã lãnh đạo và tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khoá I, khoá II, khoá III bằng chế độ phổ thông đầu phiếu, trực tiếp chỉ đạo soạn thảo Hiến pháp 1946, 1959, và ký rất nhiều các văn bản dưới luật, để đề cao pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật.
Một nét đắc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về việc xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân là trong khi đề cao pháp luật, pháp chế thì đồng thời Hồ Chí Minh cũng đề cao việc xây dựng các quan hệ xã hội tốt đẹp, thấm đượm tính nhân văn để góp phần điều chỉnh các hành vi của con người. Theo Người, cùng với những quy phạm của pháp luật, sự thống nhất giữa quản lý bằng pháp luật với việc nâng cao giáo dục đạo đức – (Đức trị Hồ Chí Minh) chính là góp phần làm cho phần tốt của con người được phát triển, phần xấu trong mỗi con người ngày một thui chột dần. Trong việc thi hành pháp luật, cái khó nhất theo Người là phải đảm bảo được vô tư, khách quan và công bằng. Trước pháp luật, vua hay thứ dân đều bình đẳng và có như vậy nước mới mạnh, dân mới yên. Làm cách mạng là đem đến cho người dân được quyền bình đẳng trước pháp luật, vì thế Người đề nghị: “Thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”[8]. Nhân trị và pháp trị trong con người Hồ Chí Minh luôn nhất quán một mục tiêu “phục công, thủ pháp, chí công, vô tư” cho nhân dân noi theo.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết tâm xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, có đội ngũ cán bộ liêm khiết “công bình, chính trực”, thạo việc để vì nhân dân phục vụ. Người đã nhiều lần nhấn mạnh đến hai yếu tố “đức và tài” của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước và yêu cầu người cán bộ phải “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, phải giỏi chuyên môn, dám làm và dám chịu trách nhiệm, có năng lực lãnh đạo, thực hiện đường lối quần chúng, v.v.. sẽ là người công bộc, người đày tớ trung thành của nhân dân. Theo Hồ Chí Minh,  cá nhân chủ nghĩa, đục khoét, tham nhũng hoặc để người thân lợi dụng trục lợi, v.v.. đều là những kẻ sâu mọt, đều là “cha mẹ của dân” và đó là một trong những nguyên nhân “đánh mất một lần nữa chính quyền vừa giành được”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh: Ngoài những cán bộ của các cơ quan dân cử, làm việc theo kỳ hạn, công chức nhà nước cần phải qua một kỳ thi tuyển để bổ nhiệm và các ngạch, bậc hành chính. Có thể nói rằng trong những năm chúng ta tiến hành Kháng chiến và Kiến quốc, tiêu chuẩn thi tuyển công chức theo sắc lệnh 76/ SL do Người ký gồm 6 môn: chính trị, kinh tế, pháp luật, địa lý, lịch sử, ngoại ngữ  là một yêu cầu khá toàn diện và yêu cầu đó đến nay vẫn thật sự thiết thực và thời sự.
Hơn 60 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, nhà nước Việt Nam DCCH và sau này là Nhà nước CHXHCN Việt Nam đã ngày một trưởng thành và phát triển. Trong những giai đoạn lịch sử khác nhau, tuy nhiệm vụ của nhà nước có sự khác nhau, song xét về bản chất, đó vẫn là nhà nước của dân, do dân, vì dân, mang bản chất giai cấp công nhân được xây dựng trên cơ sở những nguyên tắc của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Khi đất nước chuyển từ thời chiến sang thời bình, xây dựng CNXH và mở cửa, hội nhập với khu vực và thế giới, đòi hỏi việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải được vận dụng một cách sáng tạo. Trước những vận hội cùng thách thức của thời đại, càng thấy những đóng góp, những điều Hồ Chí Minh từng căn dặn về một Nhà nước của dân, do dân và vì dân và việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN trong sạch, vững mạnh của dân, do dân, vì dân theo tư tưởng của Người càng có ý nghĩa thời sự. Vì vậy, chúng ta tin tưởng rằng: Cùng với xây dựng và chỉnh đốn Đảng, cải cách hành chính, phát huy dân chủ thực sự đi đôi với tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, đảm bảo tạo mọi điều kiện phát huy mọi nguồn lực trong nước và quốc tế, v.v..dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhất định một nước Việt Nam: dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh sẽ làm thoả lòng mong ước của Người.
 


Chú thích:
(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 1995, t. 2, tr. 270.
(2) Hồ Chí Minh, Sđd, t.2, tr. 274
(3) Hồ Chí Minh, Sđd, t.3, tr.1
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2001, t.7, tr.114
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, t.7, tr.150
(6) Hồ Chí Minh, Sđd, t.4, tr.133
(7) Hồ Chí Minh, Sđd, t.4, tr.56-57
(8) Hồ Chí Minh, Sđd, t.5, tr.641