MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐỀ TÀI: “NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ KHÍ KHÔ TRONG CÔNG TÁC BẢO QUẢN TÀI LIỆU HIỆN VẬT TẠI KHU DI TÍCH PHỦ CHỦ TỊCH”

 Lê Văn Tuyên
Phòng Bảo quản di tích
 
        Sau khi Bác Hồ qua đời, thực hiện nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị Khu di tích về Người tại Phủ Chủ tịch. Cơ quan Khu di tích luôn coi trọng công tác nghiên cứu khoa học và từng bước áp dụng khoa học công nghệ mới trong bảo quản di tích, triển khai nhiều biện pháp để bảo quản từ thông thường đến hiện đại. Đặc biệt từ năm 1998 đến nay Khu di tích đã ứng dụng công nghệ mới bảo quản bằng khí khô nhờ thiết bị Munters. Đây là công nghệ tiên tiến được nhiều nước trên thế giới ứng dụng có hiệu quả để bảo quản trang thiết bị quý hiếm, thiết bị quân sự, các kho lưu giữ tài liệu hiện vật bảo tàng…        Sau 10 năm áp dụng công nghệ này để bảo quản 1 số nhà di tích: Nhà trưng bày 2 xe ô tô, kho bảo quản 3 xe ôtô, Di tích nhà 54, Phòng Hội đồng Y khoa, Hầm trú ẩn H66, các thiết bị hiện vẫn làm việc tốt. Quan sát trực tiếp cho thấy sự xuống cấp của tài liệu-hiện vật rất ít; hiện tượng nước nhỏ giọt trên tường hầm, hơi ẩm trong các nhà, nấm mốc trên gỗ, kính, vải, bạt không còn như ở các di tích khác chưa được ứng dụng công nghệ này.
I- Về phương pháp nghiên cứu: sử dụng các biện pháp: khảo sát, đánh giá, phân loại, so sánh, đối chứng và kiểm tra trực tiếp.
        - Dựa vào lý thuyết tính toán thực nghiệm của các nhà khoa học trên thế giới đưa ra để đánh giá.
        - Dùng các mẫu vật để ở các môi trường khác nhau để so sánh.
        - Trực tiếp kiểm tra bằng mắt thường hoặc tiến hành đo đạc bằng các dụng cụ thiết bị thông thường.
        Trên cơ sở đó đánh giá việc áp dụng công nghệ này trong điều kiện môi trường khí hậu của ta.
II- Về mục tiêu, yêu cầu:
        - Nghiên cứu, áp dụng các chỉ số: nhiệt độ, độ ẩm của từng nhà di tích để có cơ sở điều chỉnh nhiệt độ, độ ẩm thích hợp và ổn định cho từng nhà di tích có nhiều loại tài liệu, hiện vật khác nhau.
        - Đánh giá kết quả việc ứng dụng công nghệ khí khô trong bảo quản tài liệu-hiện vật ở Khu di tích.
        - Nêu các giải pháp ứng dụng và quy trình vận hành công nghệ khí khô trong bảo quản tài liệu-hiện vật tại Khu di tích.
III- Nội dung công việc đã thực hiện:
1. Nghiên cứu tài liệu nước ngoài kết hợp với điều kiện khí hậu khu vực phía Bắc để lựa chọn độ ẩm tối ưu cho việc bảo quản:
        - Dựa vào kết quả nghiên cứu và thực nghiệm, các nhà khoa học trên thế giới đã kết luận: Tất cả các loại vật liệu đều có tính chất hút nước, kể cả ni lông. Các vật liệu tốt nhất để trong môi trường có độ ẩm tương đối không vượt quá 50%. ở môi trường độ ẩm dưới 40% thì gần như không có rỉ sắt. Độ ẩm từ 40% - 55% rỉ sắt tăng theo hàm tuyến tính. Trên 60% thì tốc độ rỉ sắt tăng mạnh. Nấm mốc trong vải, bạt, kính tăng nhanh khi độ ẩm trên 70%. Độ ẩm tương đối 50% là tốt nhất cho đa số loại nguyên vật liệu
        Về độ ẩm: Khí hậu ẩm ở vùng phía Bắc có đặc điểm:
        - Nhiệt độ trên 200 C thì độ ẩm tương đối lớn hơn 80% (RH). Độ ẩm ở miền Bắc là rất cao nên việc bảo quản hiện vật rất khó khăn.
        + Theo sự phân loại của thế giới khi nhiệt độ ở 300C thì độ ẩm tương đối ≤ 60% được gọi là khô, còn độ ẩm tương đối từ 60% - 75% được gọi là ẩm và độ ẩm tương đối từ 75% - 100% được gọi là ướt.
        - Theo sự phân loại đó thì khí hậu miền Bắc nước ta quanh năm nóng và ẩm ướt, hàm lượng muối và tạp chất trong không khí rất cao, cường độ ánh sáng cao. Đó là điều kiện thuận lợi cho quá trình ăn mòn, lão hoá, phá huỷ sinh học và cho sự phát triển của nấm mốc.
2. Để đánh giá được chính xác chúng tôi tiến hành phân loại chúng theo hệ thống chất liệu, nhóm vật liệu cấu thành hiện vật đối với những di tích bất động sản đang bảo quản: Tổng số hiện vật vốn có ở trong các nhà di tích là 1.622 đầu loại hiện vật với gần 4.000 đơn vị hiện vật gốc. Hiện nay Khu di tích đang lưu giữ trưng bày 796 đầu loại hiện vật với 1.059 đơn vị hiện vật. Chúng tôi thống kê và phân theo nhóm các loại chất liệu của từng nhà di tích:
        - Di tích nhà 54: Có 382 đầu loại, 398 đơn vị hiện vật, trong đó đồ giấy: 303 hiện vật; đồ mộc: 22 đầu loại, 29 đơn vị; kim loại: 10 đầu loại, 12 đơn vị; đồ dệt: 22 đầu loại, 23 đơn vị; đá: 04 đầu loại, 06 đơn vị; thủy tinh và sứ: 18 đầu loại, 19 đơn vị; hoá chất: 01 hiện vật; nhựa: 02 đầu loại, 05 đơn vị.
       - Di tích H67: có 89 đầu loại, 150 đơn vị hiện vật: giấy: 39 đầu loại, 65 đơn vị, đồ mộc: 18 đầu loại, 33 đơn vị, kim loại: 10 đầu loại, 23 đơn vị, đồ dệt: 8 đầu loại, 11 đơn vị, Đá: 02 đầu loại 05 đơn vị, thuỷ tinh và sứ: 05 đầu loại, hoá chất: 01 đầu loại, nhựa: 04 đầu loại 5 đơn vị, da: 01 đầu loại.
        - Nhà Hội đồng Bác sỹ: có 36 đầu loại hiện vật 42 đơn vị hiện vật gồm: kim loại: 19 đầu loại, 24 đơn vị, đồ dệt: 06 đầu loại, 07 đơn vị, đồ nhựa: 11 đầu loại.
         - Di tích H66: có 03 đầu loại hiện vật với 10 đơn vị hiện vật gồm: đồ mộc: 02 đầu loại, kim loại: 01 đầu loại với 08 đơn vị.
        - Nhà Gara trưng bày và bảo quản ô tô: 5 đầu loại hiện vật.
        Qua nghiên cứu để phân loại hiện vật theo từng nhóm vật liệu cấu thành hiện vật ở từng nhà di tích như trên cho thấy, hiện vật trong Khu Di tích rất phong phú về thể loại, đa dạng về chất liệu cấu thành hiện vật và tính phức tạp của vị trí trưng bày, bảo quản cũng như sự tác động của cảnh quan môi trường, công tác bảo quản là nhiệm vụ hết sức quan trọng.
3. Nghiên cứu lựa chọn độ ẩm phù hợp để bảo quản lâu dài các tài liệu - hiện vật tại Khu di tích:
        - Để lựa chọn độ ẩm phù hợp bảo quản tài liệu-hiện vật tại Khu di tích, chúng ta cần tìm hiểu sự tác động của độ ẩm đối với các tài liệu – hiện vật. Với những hiện vật như gỗ, da, những chất liệu có xơ, bìa sách bằng da, vỏ bọc thì độ ẩm tương đối sẽ là 40 - 60%; với đá, gốm kim loại hoặc những chất liệu trơ khác từ 20% - 60%; kim loại và cấu trúc ôxít 15 - 40%. Với đồ dệt thì độ ẩm 40 - 60%; đồ gỗ có thể để độ ẩm 40% - 60%; với thủy tinh thì độ ẩm trung bình 40 - 60%; Các loại phim, ảnh độ ẩm tương đối 30 - 45%; nhựa độ ẩm tương đối 30 - 50%; Với chất liệu giấy độ ẩm tương đối 40 - 55%; da độ ẩm 55 - 60%.
        Hiện nay trong Khu di tích Phủ Chủ tịch mới có 5 di tích được áp dụng chế độ bảo quản có máy khí khô Munters. Chọn giá trị độ ẩm cho các phòng bảo quản: Tài liệu hiện vật của từng nhà di tích phong phú về chủng loại, đa dạng về thành phần được cấu thành bởi nhiều loại vật liệu khác nhau cho nên chúng ta chỉ chọn độ ẩm tương đối cho từng nhà di tích: Ga ra trưng bày 2 xe ôtô và kho bảo quản 3 xe ô tô, chọn độ ẩm tối ưu là 50% RH; Nhà 54 chọn độ ẩm tối ưu là 55% ± 5; Nhà để thiết bị y tế chọn độ ẩm tối ưu là 55%; Nhà hầm (H66) chọn độ ẩm tối ưu là 60% RH.
        - Tính toán chọn công xuất thiết bị Munters phụ thuộc vào: Tính chất của tài liệu, hiện vật bảo quản, độ ẩm tương đối chọn và duy trì khi bảo quản, thể tích và độ kín cũng như tính chất vật liệu xây phòng, đặc tính bảo quản (khách tham quan trong, ngoài nước), thời gian làm việc của máy Munters (từ 8-10giờ/ngày). Từ đó ta lựa chọn công suất thiết bị cho từng nhà di tích: Nhà để 2 xe ôtô khối tích khoảng 270m3 lắp thiết bị Munters M120, Nhà H54 khối tích 280m3 có lỗ thông với khí trời lắp thiết bị Munters ML 180, Nhà bảo quản 3 xe ôtô khối tích khoảng 300m3 lắp thiết bị Munters ML 180, Nhà hầm từ năm 1998 - 2004 ta lắp máy Munters M90, do tổng thể tích hầm lớn, độ ẩm cao nên máy M90 làm việc suốt 24 giờ trong ngày. Từ năm 2004 đến nay đã thay thiết bị Munters Ml 180, làm việc tốt. Độ ẩm trong nhà hầm duy trì ổn định.4. Đánh giá hiệu quả bảo quản tài liệu hiện vật bằng công nghệ khí khô.
        - Các cơ sở để đánh giá:
        + Đánh giá trên cơ sở lý thuyết: tài liệu - hiện vật nếu được giữ trong môi trường sạch có độ ẩm tương đối ở trị số thích hợp thì hiện tượng xuống cấp phá huỷ diễn ra rất chậm. Tại các phòng bảo quản xe ôtô, nhà N54, Phòng Hội đồng Y khoa, nhà hầm H66 trong những năm qua chúng ta duy trì độ ẩm ổn định. Đặt ẩm kế tự ghi nhà N54 trị số cài đặt là 40% ± 5 sau thời gian 23 ngày mặc dầu khí hậu thời tiết bên ngoài thay đổi liên tục nhưng độ ẩm trong Nhà 54 vẫn duy trì đều đặn ở trị số 40% ± 5. Điều này chứng tỏ tài liệu hiện vật của bảo tàng thường được bảo quản trong chế độ ẩm quy định, sự xuống cấp của chúng theo ngày tháng là ít nhất.
        + Đánh giá trên cơ sở quan sát thực tế: Hiện vật không bị han rỉ mục nát, nấm mốc, mối mọt, bong, tróc sơn, men hoặc biến đổi màu sắc. Đường lên xuống của nhà hầm không còn hiện tượng nước nhỏ giọt và những giọt nước đọng hai bên vách xi măng không còn.
        + Đánh giá theo mẫu đối chứng. Qua việc khảo sát mẫu đối chứng chúng ta thấy các vật mẫu (sắt, vải, kính gỗ) để ở môi trường tự nhiên sau một thời gian bị các hiện tượng rỉ mốc, mục rất nhanh. Trong khi đó các mẫu vật tương tự đặt trong phòng bảo quản vẫn giữ được trạng thái ban đầu.
        + Đánh giá về tốc độ xuống cấp của tài liệu, hiện vật: theo cấp từng năm, 5 năm, 10 năm với tỷ lệ là bao nhiêu khó thực hiện được vì phải đầu tư lớn hơn, thời gian nhiều hơn, quy mô rộng hơn.
        + Đánh giá về hiệu quả kinh tế - tiện ích của công nghệ sau hơn 10 năm thực hiện bảo quản bằng công nghệ khí khô thiết bị Munters: Kinh phí đầu tư không lớn. Máy làm việc tốt, ổn định chưa phải sửa chữa lớn. Thời gian làm việc của thiết bị khoảng 8-10giờ/ngày. Môi trường bảo quản trong sạch không có mùi, bụi. Tiêu thụ điện ít.
        - Đề xuất giải pháp làm kín phòng vừa bảo quản vừa phục vụ khách tham quan:
        + Việc tạo ra tiểu môi trường trong Khu Di tích đã được áp dụng gần đây, bằng cách lắp cửa kính (ở di tích nhà 54 và phòng trưng bày ôtô). Qua theo dõi NO, RH ở hai nhà di tích này với các di tích khác chưa lắp đặt cửa kính cho thấy:
        + Việc lắp đặt cửa kính là phương pháp kiểm soát tiểu môi trường bằng việc tạo ra một vật đệm giữa đại môi trường và tiểu môi trường để làm chậm lại tỷ lệ thay đổi NO, RH.
        + Ở Di tích nhà 54 và nhà gara trưng bày ôtô vừa có cửa kính (vật đệm) lại vừa có máy điều hoà NO, máy Munters thì việc bảo quản tài liệu - hiện vật tại di tích nhà 54 với độ ẩm tương đối RH = 60 ±5; Ở gara trưng bày ôtô với RH = 50±5 đạt hiệu quả tối ưu.
        + Để phát huy tác dụng nhiều điểm di tích trong Khu di tích nên tạo các tiểu môi trường bằng cửa kính (vật đệm) ở các di tích Nhà họp Bộ C trị, di tích H67, tới đây là di tích nhà bếp A, phòng Hội đồng y khoa v.v...
        + Để kiểm soát tiểu môi trường, cán bộ bảo quản cần làm tốt việc theo dõi ghi chép những biến động của nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng và thay đổi của khí hậu, các loại côn trùng, và cả lượng khách tham quan được lưu giữ trong hồ sơ.
IV- Kết luận:
1. Bảo quản các di tích, tài liệu hiện vật của Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch là nhiệm vụ hết sức quan trọng và cần thiết, được Khu di tích thực hiện thường xuyên, liên tục và khoa học và từng bước áp dụng khoa học - công mới vào công tác bảo quản di tích (trong đó có việc ứng dụng công nghệ khí khô). Để thực hiện tốt hơn nữa việc áp dụng khoa học - công nghệ mới vào công tác bảo quản gìn giữ lâu dài các di tích, tài liệu hiện vật của Bác tại Phủ Chủ tịch, để tuyên truyền giáo dục tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Khu di tích giao cho phòng Bảo quản di tích thực hiện đề tài khoa học: “Nghiên cứu đánh giá việc ứng dụng công nghệ khí khô trong công tác bảo quản tài liệu hiện vật tại Khu di tích Phủ Chủ tịch” là hết sức đúng đắn và cần thiết.
2. Kết quả nghiên cứu cho thấy đề tài đã kiểm chứng toàn bộ mối liên hệ hữu quan giữa nhiệt độ, độ ẩm, thời tiết, môi trường, tiểu khí hậu ở khu vực Hà Nội đã tác động trực tiếp đến sự xuống cấp của tài liệu hiện vật từ đó đề ra giải pháp khắc phục bằng việc áp dụng công nghệ khí khô để bảo quản.
3. Từ thực tế việc áp dụng công nghệ khí khô trong công tác bảo quản tài liệu hiện vật di tích và qua nghiên cứu đề tài cho thấy công tác bảo quản đạt hiệu quả cao. Công nghệ bảo quản bằng khí khô là loại công nghệ tiên tiến, hiện đại mà các nước tiên tiến trên thế giới đã thực hiện phổ biến. Ở một số nhà di tích tại Khu di tích đã được ứng dụng công nghệ này để bảo quản trong 10 năm qua cho thấy tính ổn định trong bảo quản rất cao, môi trường bảo quản trong sạch, phù hợp với tính chất của Khu di tích vừa bảo quản vừa phục vụ khách tham quan.
V- Đề xuất:
Qua quá trình hơn 10 năm ứng dụng công nghệ và sau 1 năm thực hiện đề tài nghiên cứu cho thấy, Công nghệ khí khô là công nghệ mới tiên tiến phù hợp với việc bảo quản tài liệu hiện vật di tích, việc ứng dụng công nghệ này để bảo quản trong điều kiện môi trường độ ẩm cao như ở Khu di tích đạt hiệu quả cao. Chúng tôi đề nghị Ban giám đốc tiếp tục cho triển khai mở rộng việc áp dụng công nghệ này ở một số di tích còn lại thuộc Khu di tích Phủ Chủ tịch.
 
 
 Ảnh: Buổi nghiệm thu đề tài khoa học “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ khí khô trong công tác bảo quản tài liệu hiện vật tại Khu di tích Phủ Chủ tịch”