Chúng ta phải cố gắng làm cho Đảng bộ Hà Nội trở thành kiểu mẫu

Cao Thị Hải Yến
Phó Giám đốc Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

Với vai trò chính trị đặc biệt - Thủ đô của cả nước - Hà Nội vinh dự trở thành nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh sống và làm việc lâu nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở về với Thủ Đô. Trong 15 năm cuối đời sống và làm việc ở Hà Nội, cán bộ, chiến sĩ, nhân dân thủ đô vinh dự gần bên và được nhận biết bao hơi ấm tình thương từ Người. Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Hà Nội với mong muốn “Đảng bộ Hà Nội phải làm gương mẫu cho các Đảng bộ khác. Đảng bộ Hà Nội gương mẫu sẽ góp phần đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở vững mạnh đấu tranh giành thống nhất nước nhà” (1).
Năm 1966, đế quốc Mỹ leo thang mở rộng chiến tranh bằng không quân đánh phá miền Bắc. Thường xuyên phải đối mặt với những thách thức ngày một ác liệt, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân đã có những diễn biến khá phức tạp. Một bộ phận trong số họ đã bộc lộ tư tưởng bi quan, hoài nghi, dao động. Tư tưởng sợ Mỹ, không dám đánh Mỹ đã xuất hiện không chỉ trong bộ phận quần chúng nhân dân mà có cả trong cán bộ, đảng viên của Đảng. Nhận thấy việc bồi dưỡng nâng cao trình độ, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết, Thành ủy Hà Nội đã quyết định mở lớp huấn luyện đảng viên mới. Trong hoàn cảnh thời chiến, các đồng chí trong Ban Tuyên giáo Thành ủy và ban tổ chức lớp học vừa phải khẩn trương chuẩn bị, vừa phải chú ý giữ bí mật. Lớp học thứ nhất tổ chức từ ngày 14 đến ngày 21/5/1966, gồm 169 đồng chí là đảng viên mới của 20 xí nghiệp. Lớp thứ hai gồm 164 đồng chí thuộc 26 Đảng bộ xã trọng điểm các huyện ngoại thành Hà Nội, tổ chức từ ngày 25/5 đến ngày 4/6/1966, tại xã Quảng An, huyện Từ Liêm (nay là quận Tây Hồ). Chương trình, nội dung học tập của lớp huấn luyện do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp duyệt với các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Hoàng Quốc Việt, Hoàng Anh, Tố Hữu, Nguyễn Văn Trân, Nguyễn Lam.
Là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, trên cương vị đứng đầu Đảng và Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn lo lắng vấn đề xây dựng Đảng và đội ngũ cán bộ đảng viên vững mạnh. Quan tâm đến công tác giáo dục lý luận chính trị cho đảng viên mới, Người đã đến thăm và có bài nói chuyện quan trọng tại lớp huấn luyện Đảng viên mới do Thành ủy Hà Nội tổ chức. Đồng chí Nguyễn San Hùng, Phó Giám đốc trường Đảng trung cấp của Thành ủy Hà Nội lúc đó kể lại: “…Được tin Bác Hồ sẽ đến dự khai mạc và nói chuyện với lớp học, các đồng chí trong Ban Tổ chức rất phấn khởi, phân công ngay người đào hầm cá nhân và cẩn thận mượn cả một chiếc thang con bắc xuống hầm phòng khi có báo động để Bác bước xuống được nhẹ nhàng. Trong giờ khai mạc, các học viên được báo là sẽ có một giảng viên cao cấp đến dự và giảng bài cho cả lớp. 3 giờ 15 phút, ngày 14/5/1966, chiếc Pô-bê-đa lướt qua cổng trường Chu Văn An, đỗ lại. Bác Hồ dáng cao cao, nước da hồng hào, nụ cười hiền hậu trên môi, đầu đội chiếc mũ cát két, mặc bộ quần áo màu nâu giản dị từ trên xe bước xuống sân trường, cùng đi với Bác có đồng chí Tố Hữu, Hoàng Tùng…Bác bỏ mũ chào các đồng chí công an đứng thành hai hàng bảo vệ. Hàng trăm người trong lớp học ùa ra reo mừng sung sướng: “Bác Hồ muôn năm! Bác Hồ muôn năm!”. Mọi người vây quanh Bác như đàn con nhỏ xúm xít cạnh người cha hiền từ, thay nhau trả lời những câu hỏi của Người.
Bác đi thăm khu vực lớp và hỏi về công tác tổ chức lớp. Bác khen công tác chuẩn bị như vậy là tốt. Bác còn dặn thêm: các chú hãy coi Bác bình thường như mọi người, đừng để mất thì giờ vì Bác. Bác tỏ ý không bằng lòng vì mọi người đã đào hầm riêng cho Bác, cử nhiều công an đến bảo vệ. Bác nói để thì giờ làm việc khác cần thiết hơn. Bước vào hội trường, Bác thân mật hỏi thăm tình hình công tác của các học viên và có bài nói chuyện về những nhiệm vụ của người đảng viên mới”(2). Trong bài nói chuyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đến điều đầu tiên cũng là điều quan trọng nhất là “vì sao chúng ta vào Đảng”, vào Đảng để làm gì? Người đảng viên mới cần xác định đúng đắn động cơ vào Đảng, vào Đảng không phải để thăng quan, phát tài mà “để hết lòng hết sức phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, làm tròn nghĩa vụ của người đảng viên”. Chừng nào “miền Nam chưa được giải phóng, Tổ quốc chưa được thống nhất, nhân dân chưa được sung sướng, yên vui” thì tất cả các đảng viên “vẫn phải đem hết tinh thần và nghị lực mà phấn đấu, hy sinh cho sự nghiệp cách mạng hoàn toàn thắng lợi”. Đó là lý tưởng mà những người cộng sản không được phút nào quên.
Để xứng đáng với danh hiệu người đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi đảng viên “phải không ngừng rèn luyện tư tưởng vô sản và giữ vững lập trường vô sản, cố gắng học hỏi để nâng cao trình độ”(3). Nhiệm vụ cách mạng đòi hỏi mỗi đảng viên phải tích cực học tập suốt đời: “Học tập lý luận Mác - Lê nin, học tập đường lối chính sách của Đảng, đồng thời phải học tập văn hóa, kỹ thuật và nghiệp vụ”(4). Bác nhắc: “Có đồng chí mới 40 mà đã cho mình già cho nên ít chịu học tập. Nghĩ như vậy là không đúng, 40 tuổi chưa phải là già. Bác đã 76 tuổi nhưng vẫn cố gắng học thêm. Chúng ta phải học và hoạt động cách mạng suốt đời. Còn sống thì còn phải học, còn phải hoạt động cách mạng”(5). Bác tóm tắt những điều cơ bản mà mỗi đảng viên mới phải học tập, đó là nắm vững về chủ nghĩa cộng sản, học tập đường lối cơ bản về nhiệm vụ trước mắt của cách mạng Việt Nam; hiểu rõ tổ chức cơ sở của Đảng; nhiệm vụ quyền hạn và phương pháp công tác của người đảng viên.
Đối với đảng viên mới, muốn học tập một cách thiết thực để có kết quả tốt thì phải có thái độ, phương pháp đúng và lý luận phải liên hệ với thực tế. Bác kể chuyện thời kháng chiến gặp một số đồng chí đi học tập về, hỏi thì nói là hay lắm nhưng lại không hiểu được: “Một lần Bác đi dự hội nghị về, thấy một số đồng chí đang nghỉ ở một gốc cây đa to bóng mát, Bác hỏi:
-    Các cháu đi đâu về?
-    Chúng cháu đi học.
-    Học những gì?
-    Học Các Mác.
-    Có hay không?
-    Thưa Bác hay lắm.
-    Có hiểu không?
Họ ấp úng:
- Thưa Bác, nhiều cái khó quá, không hiểu được”(6).
Bác cho rằng: “Học như thế là phí công, phí của”(7) và yêu cầu “phải biến những điều đã học thành hành động cách mạng thực tế. Học phải đi đôi với hành, chứ không phải học để nói suông”(8). Vì vậy, khi tuyên truyền về đường lối cách mạng, Bác luôn dùng hình ảnh gần gũi và câu chuyện dễ hiểu để minh họa. Đầu năm 1946, có cuộc họp cán bộ từ Trung ương đến các địa phương, Bác đến thǎm và nói chuyện. Khi giải thích mối quan hệ giữa chính sách của Chính phủ với nhân dân thông qua đội ngũ cán bộ địa phương, Bác dùng một tấm bìa hình tam giác cân. Bác quay đáy tam giác lên trên, hướng đỉnh xuống phía dưới và nói:... những chủ trương đó qua nhiều cấp, nhiều cán bộ yếu kém đến khi xuống đến dân thì bé lại chỉ còn chừng này. Sau đó, Bác lật tấm bìa cho đáy xuống dưới, đỉnh lên trên và giải thích: Chiều đáy là nguyện vọng của nhân dân được phản ánh từ cơ sở, có rất nhiều, rất phong phú, nhưng qua nhiều cấp, cán bộ thì chỉ còn bé chừng này. Bác chỉ tay vào đỉnh trên. Bác kết luận: Vậy thì chúng ta phải làm gì để cho Chính phủ gần dân(9)? Buổi họp hôm ấy ai nấy đều thấm thía lời dạy của Bác và tự tìm ra câu trả lời phù hợp với công việc của mình.
Trong phần nói về kết quả của công tác giáo dục đảng viên, Bác biểu dương những thành tích đã đạt được và chỉ ra tồn tại khuyết điểm, như: số đảng viên kết nạp nhiều nhưng số được huấn luyện còn ít; việc giáo dục chưa có chương trình, kế hoạch, toàn diện và lâu dài; một số cấp ủy chưa quan tâm đến việc giáo dục đảng viên. Để sửa chữa những thiếu sót đó, Bác nhấn mạnh: đối với tập thể, Ban
Tuyên giáo Trung ương cùng các cấp ủy cần phải quan tâm hơn nữa đến việc giáo dục đảng viên bằng biện pháp cụ thể; đối với cá nhân, đảng viên phải là cốt cán trong cuộc vận động “Ba xây, ba chống”, “Cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp”, phải gương mẫu trong sản xuất và chiến đấu, phải gương mẫu trong đạo đức cách mạng. Hàng ngày phải “tự kiểm điểm như rửa mặt” để cố gắng làm đúng mười nhiệm vụ của đảng viên. Cuối cùng, kết thúc bài nói chuyện, Bác bày tỏ mong muốn “Đảng bộ Hà Nội trở nên kiểu mẫu, làm đầu tàu trong học tập, sản xuất và chiến đấu”(10).
Bằng những lời giản dị, dễ hiểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã truyền đạt một nội dung lý luận sâu sắc đến các đồng chí đảng viên mới. Vào thời điểm năm 1966, đất nước ta đang dồn sức cho cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, bảo vệ và xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, việc Thành ủy Hà Nội mở lớp huấn luyện đảng viên mới và Bác đến thăm, nói chuyện trong ngày khai giảng, mới thấy hết sự quan tâm của Đảng, của Bác cũng như tầm quan trọng của công tác giáo dục lý luận chính trị. Sau hai lớp huấn luyện đảng viên mới này của Thành ủy Hà Nội, Ban Tuyên giáo Trung ương (khóa III) đã biên soạn thành tập tài liệu 4 bài, được đồng chí Trường Chinh duyệt lại, sử dụng làm tài liệu huấn luyện cho các lớp đảng viên mới ở Hà Nội và cả nước, lấy tên là “Lớp đảng viên Hồ Chí Minh”. Từ những lớp bồi dưỡng đảng viên mới như vậy, tinh thần hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân càng được củng cố, càng được nhân lên, tạo thành sức mạnh tổng hợp quét sạch quân xâm lược, thống nhất đất nước.
Với tầm nhìn chiến lược của một nhà lãnh đạo thiên tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh
giá đúng đắn tầm quan trọng của con người trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Vì vậy, Người rất quan tâm đến giáo dục con người. Khi đề cập đến vấn đề “trồng người”, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm trước hết đến vấn đề phẩm chất, đạo đức của cán bộ, đảng viên, coi đó là cái gốc của con người mới. Đối với đảng viên mới, những đồng chí vinh dự bắt đầu được đứng vào hàng ngũ của Đảng thì việc xác định lý tưởng phấn đấu, tư tưởng đạo đức càng quan trọng hơn nữa. Những lời nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh với lớp huấn luyện đảng viên mới không phải chỉ là lời của người đứng đầu Đảng mà hơn hết, nó có sức nặng trao truyền, sức lay động trái tim người tiếp nhận thông điệp bởi đó là lời thân tình, tâm huyết của người anh lớn, người đồng chí đi trước nhắn nhủ về lý tưởng, truyền đạt về kinh nghiệm, chỉ dạy về phương pháp. Những nội dung cốt lõi mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến tại lớp huấn luyện đảng viên mới năm 1966 đã vượt ra ngoài khuôn khổ bài nói chuyện thông thường đối với một lớp học tại thời điểm bấy giờ bởi đó luôn là vấn đề sống còn của Đảng. Qua 60 năm, bài nói chuyện này vẫn còn ý nghĩa quan trọng và giá trị thực tiễn đối với công tác giáo dục lý luận chính trị hiện nay. Bài nói chuyện của Người đã khái quát sứ mạng cao cả của Đảng, về mối quan hệ biện chứng giữa tổ chức cơ sở Đảng với từng đảng viên xoay quanh nhiệm vụ của người đảng viên. Trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nói chung và thực hiện những nội dung của Nghị quyết Đại hội Đảng khóa XII nói riêng, rèn luyện theo tư tưởng của Người, xác định đúng lý tưởng phấn đấu, đấu tranh kiên quyết với những động cơ vào Đảng sai trái, lệch lạc; chống sự suy thoái về đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là việc làm thiết thực.

Chú thích:
  1. Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội-2002, Tập 9, Tr.421.
  2. Bác Hồ với Ba Đình, Tr.72-73. 3,4,5,6,7,8,10. Hồ Chí Minh toàn tập, SĐD, Tập 15, Tr.112-117.     9. Hồ Chí Minh - Chân dung đời thường, NXB Lao Ðộng - Trung tâm VHNN Ðông Tây, Hà Nội-2003, Tr.