Chủ tịch Hồ Chí Minh với Ninh Bình

ThS. Trần Thị Thắm
Phòng Tuyên truyền - Giáo dục 

Ninh Bình là một tỉnh nằm ở cửa ngõ cực nam miền Bắc và khu vực đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam. Thế kỷ XVI
-    XVII, đạo Thiên Chúa được truyền vào Ninh Bình, dần dần hình thành trung tâm Thiên Chúa Giáo Phát Diệm, nay là giáo phận Phát Diệm đặt tại Kim Sơn với 60% tổng số giáo dân toàn tỉnh. Vùng đất địa linh nhân kiệt Ninh Bình là nơi phát tích dựng nghiệp của các vương triều Đinh, Lê, Lý... Những phẩm chất và truyền thống tốt đẹp của nhân dân Ninh Bình càng được phát huy từ khi có sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ kính yêu. Trong khoảng 15 năm, tính từ tháng 1/1946 đến tháng 7/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về thăm Đảng bộ và nhân dân Ninh Bình 5 lần. Mỗi lần Bác về là một lần Bác giao cho nhân dân Ninh Bình những nhiệm vụ cụ thể phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước như: Đoàn kết lương - giáo, tăng gia sản xuất, diệt giặc đói, giặc dốt, xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng, đoàn kết dân chủ…
Sáng ngày 13/1/1946 nhân dân Ninh Bình, đặc biệt là đồng bào thị trấn Phát Diệm (Kim Sơn) vô cùng phấn khởi và tự hào lần đầu tiên được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm. Được tin Bác về, nhân dân nhiều xã trong huyện Kim Sơn đã đổ về thị trấn, đứng chật hai bên đường phố chờ đón và hô vang khẩu hiệu: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa muôn năm!” “Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!”... Nói chuyện với đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngợi nhân dân huyện Kim Sơn đã cố gắng đắp đê, tăng gia sản xuất và giúp đỡ nhau trong lúc đói kém. Người hoan nghênh đồng bào đã khắc phục khó khăn, đi học bình dân học vụ. Trước hàng vạn đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rõ nhiệm vụ của cách mạng nước nhà lúc này là phải ra sức giữ vững nền độc lập. Người căn dặn mọi người Việt Nam dù là công giáo hay không công giáo, phật giáo hay không phật giáo, phải nỗ lực đấu tranh cho nền độc lập của nước nhà. Người nói với đồng bào công giáo rằng: “Đức chúa hy sinh vì nhân loại, Người vì loài người mà hy sinh phấn đấu, còn chúng ta thì hy sinh vì độc lập tự do của dân tộc. Kính chúa nhưng phải yêu nước. Nước không được độc lập thì tôn giáo không được tự do, nên chúng ta phải làm cho nước độc lập đã”(1). Nhận lời mời của Giám mục Lê Hữu Từ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến nhà thờ Phát Diệm, thăm các linh mục của địa phận. Tại đây, Người kêu gọi các linh mục, ra sức động viên con chiên đóng góp vào việc xây dựng và bảo vệ chính quyền.
Chia tay đồng bào thị trấn Phát Diệm, trên đường về thị xã Ninh Bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành thời gian vào thăm lớp huấn luyện các bộ quân chính đầu tiên của tỉnh ở thôn Yên Phúc, xã Ninh Phúc, huyện Gia Khánh (nay là huyện Hoa Lư). Tới nơi, Bác đi kiểm tra nơi ăn, ở học tập của học viên. Do điều kiện ban đầu còn quá khó khăn, anh em dự lớp học phải nằm ổ rơm, Người nhắc ông Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phải chú ý đến việc ăn ở, học hành cho học viên và khuyên anh em học viên phải cố gắng học tập vì địa phương và đất nước đang cần rất nhiều cán bộ cho cách mạng; phải tích cực tăng gia sản xuất, hết sức tiết kiệm, vì nước ta còn nghèo và phải chống giặc ngoại xâm.
Tạm biệt lớp học, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm thị xã Ninh Bình. Gặp gỡ người dân Ninh Bình, Người nói với đồng bào về nhiệm vụ trước mắt hiện nay là phải ra sức nêu cao tinh thần đoàn kết, “tương thân tương ái” để chống giặc đói, giặc dốt và chống giặc ngoại xâm, thực hiện kháng chiến và kiến quốc. Người khuyên đồng bào Ninh Bình hết sức chú trọng việc đắp đê. Người nói: “vì hiện nay dân ta đang đói. Trước kia dân ta đói vì Nhật, Pháp, bây giờ ta đói vì vỡ đê, không đắp đê nạn đói có thể hành hạ chúng ta”(2). Sau cùng, Người gặp gỡ, căn dặn các đồng chí cán bộ lãnh đạo tỉnh cố gắng lãnh đạo nhân dân củng cố chính quyền thật vững mạnh để tạo điều kiện tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cấp bách trước mắt.
Thực hiện lời dạy của Bác, quân và dân Ninh Bình đã giành được nhiều thắng lợi, vượt qua được chặng đường đầy gian khổ để đi vào cuộc kháng chiến trường kỳ. Đặc biệt, phong trào thi đua yêu nước đã động viên đông đảo đồng bào theo đạo Thiên chúa vào các đoàn thể cách mạng, ủng hộ quỹ Độc lập và quỹ Nam Bộ kháng chiến. Đồng bào theo đạo Thiên chúa ngày càng hiểu sâu sắc lời dạy của Bác Hồ: “Nước không được độc lập thì tôn giáo không được tự do, vậy ta phải làm cho nước được độc lập đã”. Cũng vì đoàn kết lương giáo, chống giặc ngoại xâm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lệnh thả 7 người bị bắt “mà Giám mục Lê Hữu Từ muốn lãnh về”
Lần thứ 2 Chủ tịch Hồ Chí Minh về Ninh Bình để dự hội nghị điền chủ tại Nho Quan, bàn việc giúp đỡ đồng bào tản cư (ngày 10/2/1947). Phát biểu với hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng, muốn trường kỳ kháng chiến, trước hết ta phải đoàn kết, toàn dân phải tham gia, phải kháng chiến toàn diện và phải tự cấp, tự túc mọi mặt. việc này ta có thể làm được, nhưng không dễ dàng, muốn làm được ta phải hy sinh gắng sức về mọi mặt. Tiếp theo, Người giải thích một cách cặn kẽ, vì sao đồng bào ta phải tản cư? Trước hết là an toàn, của cải cũng được an toàn, về tinh thần ta hy sinh đi còn hơn ở lại chịu nhục với Pháp. Trong lúc này phải nêu cao nghĩa đồng bào, tình dân tộc. Người có ăn, có mặc phải giúp đỡ đồng bào không có. Nhưng để tản cư lâu dài, chẳng những giúp cho đồng bào có cơm ăn, chỗ ở, mà còn phải giúp đồng bào việc làm để sinh sống, vì ta phải trường kỳ kháng chiến. Thêm nhiều người ăn, người làm, ta phải tăng gia sản xuất. Đó là bổn phận của đồng bào hậu phương. Muốn làm được việc này ta phải có kế hoạch cụ thể, chu đáo đến từng nhà, từng người. Ta phải đồng tâm hiệp lực giúp đỡ nhau. Các kỹ nghệ gia, thương gia, nông gia đều phải giúp vào việc này và phải giúp đỡ nhau để phát triển. Thông suốt lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đại biểu, các điền chủ đều đồng tâm nhất trí hứa với Người sẵn sàng giúp đỡ đồng bào tản cư có lương thực để ăn, nơi ở, ruộng đất và dụng cụ lao động để khi đồng bào đến ổn định đời sống là bắt tay ngay vào lao động sản xuất.
Sau hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm tu viện Châu Sơn, nơi xin nhận 120 đồng bào tản cư đến ở. Người thăm nhà thờ lớn, khu tu hành. Từ linh mục đến các tu sỹ, người phục vụ đều hân hoan đón chào Người và đều hứa với Người sẽ tận tâm giúp đỡ đồng bào tản cư. Đến hết tháng 4/1947, Ninh Bình đã đón nhận gần 4 vạn đồng bào tản cư đến. Đồng bào đều được bố trí nhà ở, lương thực để ăn và các cơ sở điều kiện để lao động sản xuất. Nhân dân trong tỉnh đã đóng góp 3 vạn đồng, trợ giúp những người tản cư gặp khó khăn nhất. Trải qua 9 năm kháng chiến, Ninh Bình có thời gian dài nửa tỉnh là hậu phương, nửa tỉnh là tiền tuyến. Nhiều năm chiến sự diễn ra ác liệt, nhưng đồng bào tản cư, các cơ quan Đảng, chính quyền, các công binh xưởng, bệnh viện của tỉnh bạn và Liên khu 3 vẫn được bảo vệ an toàn, góp phần tăng cường tiềm lực cho cuộc trường kỳ kháng chiến thắng lợi. Một số gia đình tản cư đã ở lại Ninh Bình làm ăn sinh sống, lấy Ninh Bình làm quê hương thứ hai cho tới ngày nay.
12 năm sau, niềm vinh dự và hạnh phúc lớn lao đối với Đảng bộ và nhân dân Ninh Bình lại được đón Bác Hồ về thăm và động viên trong những ngày cả tỉnh đang rất khẩn trương sôi nổi thi đua chống hạn cứu lúa.
Sáng ngày 15/3/1959, nhân dân xã Khánh Cư (Yên Khánh) đang cùng bộ đội đào con ngòi Chùa Cao để lấy nước từ sông Đáy dẫn vào cánh đồng Chằm, rất sung sướng khi nhìn thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh với tác phong giản dị, quần xắn cao và đôi dép cao su trên tay, nhanh nhẹn bước lên bờ mương vừa mới đào. Nhìn con ngòi dài lấy nước từ sông Đáy vào để tưới cho hàng ngàn mẫu lúa đang bị khô hạn, Người rất hài lòng. Chủ tịch Hồ Chí Minh ân cần thăm hỏi, cán bộ, nhân dân và bộ đội. Đồng bào đang lao động trên các cánh đồng và ở các thôn xóm được tin Bác Hồ về thăm đã tập trung về rất đông, vây quanh Người. Bác động viên khích lệ mọi người hăng hái lao động quên mình chống hạn cứu lúa và căn dặn đồng bào hãy cố gắng làm thủy lợi để lấy nước cứu hàng vạn mẫu lúa và cày cấy hết số diện tích còn lại. Trước khi tạm biệt đồng bào, Bác trao cho đồng chí lãnh đạo xã Khánh Cư 5 chiếc huy hiệu của Người để thưởng cho những cá nhân có thành tích chống hạn xuất sắc.
Trên đường trở về thị xã Ninh Bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh dừng xe xuống thăm bà con nông dân xã Ninh Sơn (Gia Khánh) đang tát nước tập đoàn cứu lúa bị hạn trên cánh đồng chân núi Cánh Diều. Người ân cần thăm hỏi động viên cán bộ nhân dân và khuyên mọi người ra sức quyết tâm chiến thắng giặc hạn hán. Tại thị xã Ninh Bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với hơn 2.000 đại biểu cán bộ và nhân dân. Sau khi khen ngợi biểu dương những cố gắng và thành tích chống hạn và sản xuất, nêu rõ khuyết điểm, thiếu sót cần khắc phục, Người nói: “Vừa qua tình hình chống hạn tuy có khá hơn nhưng vẫn chưa đủ. Đào đất để chống hạn còn ít… có hạn là do không biết giữ nước như Yên Khánh, Yên Mô, Gia Viễn. Còn hạn là do lãnh đạo tuy có cố gắng nhưng thiếu quyết tâm bền bỉ, thiếu liên tục… khuyết điểm nữa là không chú ý đúng mức đến hoa màu, cây công ngiệp và chăn nuôi”(3). Bác dặn dò: “Cán bộ phải có quyết tâm chống hạn và quyết tâm phải liên tục, bền bỉ. Biến quyết tâm của cán bộ thành quyết tâm của nhân dân, đoàn kết giúp đỡ nhau… Trong khi chống hạn phải đồng thời có kế hoạch phòng hạn, phòng úng… Phải chống tư tưởng bảo thủ, sợ khổ, ỷ lại”(4). Nói về sản xuất, Người chỉ rõ: “Ruộng có đủ nước, còn phải cần đủ phân thì lúa mới tốt. Mức bình quân 3 tấn 6 phân một mẫu tây như ở Ninh Bình là còn ít quá. Phải cố gắng bón nhiều phân hơn nữa. Phải chăm bón tốt và phải phòng trừ sâu bệnh cho lúa và hoa màu”(5). Bác cũng nhắc nhở: “Toàn thể đảng viên, đoàn viên, thanh niên phải gương mẫu, tất cả các hợp tác xã và tổ đổi công cũng phải gương mẫu làm đầu tầu, giúp đỡ những nông dân còn làm ăn riêng lẻ”(6). Kết thúc buổi nói chuyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nhân dân ta đã anh hùng trong kháng chiến, cần phải anh dũng trong sản xuất. Chúng ta phải thắng thiên tai, hạn úng, bão lụt…để sản xuất ngày càng được nhiều, đem lại hạnh phúc cho nhân dân, đưa nước nhà tiến lên chủ nghĩa xã hội”(7). Chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngợi đồng bào xã Khánh An có thành tích xuất sắc làm thủy lợi chống hạn cứu lúa. Nhân dịp này Bác Hồ trao cho đồng chí Đinh Đức Phụng, Bí thư Chi bộ xã Khánh An (Yên Khánh) 5 chiếc huy hiệu của Người để thưởng cho những cá nhân xuất sắc đồng thời Bác trao cho đồng chí Phan Điền, Bí thư Tỉnh ủy một số huy hiệu của Người để làm giải thưởng trong vụ sản xuất đông xuân.
Thực hiện lời dạy của Bác, Ninh Bình đã trở thành tỉnh hoàn thành khối lượng đắp đê sớm nhất miền Bắc, cũng là tỉnh đầu tiên hoàn thành vượt mức kế hoạch làm thủy lợi Nhà nước giao. Trong không khí vui mừng trước thắng lợi vụ Đông -Xuân 1958-1959 và vụ mùa năm 1959, Tỉnh ủy, UBHC tỉnh Ninh Bình tổ chức hội nghị toàn tỉnh bàn về sản xuất vụ Đông - Xuân 1959-1960, từ ngày 16 đến ngày 19/10/1959. Người dân Ninh Bình một lần nữa vinh dự được đón Bác về thăm.
Buổi sáng ngày 18/10/1959, tại hội trường nhà máy xay Ninh Bình, hơn 1.300 đại biểu dự hội nghị vô cùng sung sướng được nghe
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện. Bác biểu dương khen ngợi cán bộ và nhân dân Ninh Bình có nhiều thành tích trong vụ sản xuất Đông - Xuân năm ngoái, đã tích cực chống hạn cứu lúa, biết giữ nước và sản xuất khá. Đồng thời, Người chỉ rõ: “Vụ Đông - Xuân năm ngoái chỉ lo làm lúa, còn hoa màu, cây công nghiệp và chăn nuôi chưa được chú ý, như thế là khuyết điểm lớn, trong vụ này cần phải sửa chữa”(8).
Sau khi nêu rõ ý nghĩa to lớn về chính trị, kinh tế của vụ Đông - Xuân 1959-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh công tác lãnh đạo “phải đi đúng đường lối quần chúng trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch sản xuất, phải biến quyết tâm của Đảng, của Chính phủ thành quyết tâm của toàn thể cán bộ và quần chúng thì dù khó khăn mấy nhất định sẽ tốt”(9). Người ân cần khuyên cán bộ và nhân dân Ninh Bình muốn sản xuất vụ đông-xuân này thắng lợi thì phải nhớ và làm đúng tám điều:
“Nước phải đủ, phân phải nhiều
Cày sâu, giống tốt, cấy đều dảnh hơn, Trừ sâu, diệt chuột chớ quên.
Cải tiến nông cụ, là nền nhà nông, Ruộng nương quản lý gia công
Tám điều đầy đủ thóc bông đầy bồ”(10)
Cuối buổi nói chuyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh động viên cán bộ, đảng viên, nhân dân Ninh Bình đoàn kết chặt chẽ trong Đảng, trong nhân dân, đoàn kết lương giáo, chăm lo xây dựng phát triển Đảng và đoàn thanh niên thật vững chắc. Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu đầu tầu trong mọi công việc. Người tỏ ý tin tưởng rằng vụ Đông - Xuân 1959 -1960 ở Ninh Bình sẽ giành được thắng lợi và đã giao lại cho lãnh đạo tỉnh 5 chiếc Huy hiệu để làm giải thưởng cho những cá nhân có thành tích xuất sắc.
Ngày 20/7/1960, sau khi thăm một số nông trường quốc doanh ở Nghệ An, Thanh Hóa, trên đường về Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tới thăm nông trường Đồng Giao. Đó là niềm vinh dự và hạnh phúc lớn lao của cán bộ, công nhân nông trường Đồng Giao cũng là niềm vinh hạnh to lớn của Đảng bộ và nhân dân Ninh Bình lần thứ năm được Bác về thăm. Khi chiếc xe ô tô của Bác vừa dừng lại trước khu nông trường bộ, các đồng chí trong Ban Thường vụ Đảng ủy, lãnh đạo và một số cán bộ nông trường ùa ra sân quây quần đón Bác, như đón người cha đi xa trở về. Bác Hồ giản dị với bộ quần áo vải lụa Hà Đông, đầu đội mũ cát, chân đi đôi dép cao su quen thuộc, bước đi ung dung, nhanh nhẹn. Bác thân ái vẫy chào mọi người. Phong cách gần gũi thân thương của vị lãnh tụ tối cao làm cho mọi người càng thêm kính yêu và cảm phục. Bác ân cần hỏi thăm tình hình sản xuất kinh doanh của nông trường. Các đồng chí lãnh đạo nông trường đã báo cáo với Bác từng công việc cụ thể. Khi Người hỏi về việc nuôi dạy các cháu nhỏ con em công nhân, các đồng chí lãnh đạo nông trường còn đang lúng túng chưa trả lời được, Bác Hồ cười đôn hậu nói: “Các chú phải quan tâm thật sự đến vấn đề này!”(11). Trước khi lên xe trở về Hà Nội, Bác căn dặn các đồng chí lãnh đạo nông trường: Các chú cùng công nhân cố gắng làm việc thật tốt để xây dựng nông trường Đồng Giao trở thành một nông trường giàu có, làm ra nhiều sản phẩm xuất khẩu, đời sống của công nhân được cải thiện nâng cao là Bác vui, Bác mừng… các đồng chí lãnh đạo nông trường nghẹn ngào xúc động, đồng thanh hứa quyết tâm thực hiện tốt lời Bác dạy, đưa nông trường phát triển tiến lên. Nhờ sự chuyển hướng sản xuất đúng đắn, tổ chức lại sản xuất hợp lý và sự nỗ lực phấn đấu của cán bộ, công nhân, năm 1965, lần đầu tiên nông trường Đồng Giao sản xuất kinh doanh có lãi, sau 10 năm xây dựng và sản xuất.
Ngoài những vinh dự được trực tiếp đón Bác về thăm, Đảng bộ và nhân dân Ninh Bình còn nhận được muôn vàn tình thương yêu và chăm sóc của Bác như: Bước sang năm 1969, do tuổi cao, sức khỏe giảm sút nhiều Bác không về dự Đại hội Đảng bộ tỉnh Ninh Bình được, Bác đã giao cho đồng chí Hà Thị Quế - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm ủy ban Kiểm tra Trung ương chuyển bức chân dung của Bác về tặng. Dưới bức chân dung Bác có ghi những lời dặn dò vô cùng quý báu đối với Đảng bộ và nhân dân Ninh Bình: “Khuyên cán bộ một lòng, một dạ phục vụ nhân dân. Chúc đồng bào các dân tộc đoàn kết chặt chẽ, sản xuất tốt, chiến đấu giỏi, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Bác còn dặn đồng chí Hà Thị Quế nhắc Đại hội phải thật sự đoàn kết và dân chủ.
Bác đã đi xa hơn 47 năm, nhưng tình cảm của Người, tư tưởng của Người vẫn luôn khắc ghi, trong tâm khảm và trong trái tim của bao thế hệ cán bộ, nhân dân Ninh Bình, trở thành động lực lớn lao trên con đường xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Những năm qua, Ninh Bình đã có hàng trăm tập thể, cá nhân tiêu biểu, xuất sắc thực hiện tốt việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh đã xây dựng các công trình tưởng niệm, tri ân, ghi nhớ công ơn vị lãnh tụ kính yêu: Đền thờ Bác Hồ và các anh hùng liệt sỹ tại Khánh Cư, Yên Khánh; Đền thờ Bác Hồ tại Khánh Phú, Yên Khánh; Khu di tích lưu niệm Bác Hồ tại Lạng Phong, Nho Quan; Tượng Bác Hồ tại Bảo tàng Ninh Bình; Tượng Bác tại Bảo tàng Tam Điệp… Ngoài ra, tại một số di tích kiến trúc cổ, nhân dân địa phương cũng lập bàn thờ Bác; các hội trường của các trường học, nhà máy, xí nghiệp, cơ quan, công sở Nhà nước, tượng Bác được đặt ở vị trí trang trọng, thành kính nhất./.

Chú thích:
1.    Báo cứu quốc số 141-142 ra ngày
14 và 15 tháng 1/1946.
2.    Báo cứu quốc số 141-142 ra ngày
14 và 15 tháng 1/1946.
3.    Hồ Chí Minh: Toàn tập. Nxb Chính trị Quốc gia. H. 2011, t. 12, tr. 129.
4.    Hồ Chí Minh: Toàn tập. Nxb Chính trị Quốc gia. H. 2011, t. 9, tr. 129.
5.    Hồ Chí Minh: Toàn tập. Nxb Chính trị Quốc gia. H. 2011, t. 12, tr. 129-130.
6.    Hồ Chí Minh: Toàn tập. Nxb Chính trị Quốc gia. H. 2011, t. 12, tr 129-130.
7.    Hồ Chí Minh: Toàn tập. Nxb Chính trị Quốc gia. H. 2011, t. 12, tr. 130.
8.    Hồ Chí Minh: Toàn tập. Nxb Chính trị Quốc gia. H. 2011, t. 12, tr. 307.
9.    Hồ Chí Minh: Toàn tập. Nxb Chính trị Quốc gia. H. 2011, t. 12, tr 307-308.
10.    Hồ Chí Minh: Toàn tập. Nxb Chính trị Quốc gia. H. 2011, t. 12, tr. 308.
11. Bác Hồ với Ninh Bình. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Ninh Bình. NB 1999, tr. 107.