Chủ tịch Hồ Chí Minh với cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của nước

Đặng Quang Huy
Phòng Sưu tầm - Kiểm kê - Tư liệu

Ngày 3/9/1945, chỉ một ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh  ra  nước  Việt  Nam  Dân  chủ Cộng hòa, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị một trong sáu nhiệm vụ cấp bách cần phải thực hiện ngay là “tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng Tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu” bầu ra Quốc hội - cơ quan quyền lực tối cao của nhân dân để cử ra một Chính phủ thật sự của toàn dân. Khi đưa ra đề nghị này, nhiều người tỏ vẻ lo lắng sẽ không có kết quả, do đất nước còn non trẻ, trình độ nhân dân thì quá thấp. Nhưng, với lòng tin tuyệt đối vào nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nhân dân ta sẽ biết sử dụng lá phiếu của mình, Tổng Tuyển cử nhất định thành công”(1). Năm ngày sau đó, Chính phủ Lâm thời đã ban hành Sắc lệnh đầu tiên (Sắc lệnh số 14) để chính thức ấn định sau 2 tháng sẽ mở cuộc Tổng Tuyển cử và thành lập Uỷ ban bầu cử.
Ngày 10/12/1945, danh sách  74  ứng cử viên khu vực Hà Nội (để chọn lấy 6 đại biểu) được niêm yết rộng rãi. Trong danh sách Bác đứng thứ 2 sau cụ Nguyễn Văn Tố. Mặc dù tất cả ứng cử viên đã được đăng tiểu sử kèm theo ảnh trên báo, nhưng cử tri còn muốn được trực tiếp nghe các ứng viên nói rõ chương trình hành động của mình. Đó là những cuộc tiếp xúc rộng rãi, diễn ra hết sức sôi nổi ở khắp mọi nơi, trong một khung cảnh thật sự tự do và dân chủ, giữa các cử tri và người ra ứng cử. Có khi chỉ có hai, ba ứng cử viên cũng tổ chức riêng một cuộc tiếp xúc để trình bày chương trình hành động của mình. Thậm chí có nơi như ở Hải Phòng có ứng cử viên tự tổ chức lấy địa điểm, tự chuẩn bị cả loa phóng thanh cho cuộc gặp mặt. Việc ra ứng cử trong cuộc tổng tuyển cử đầu tiên này cũng hoàn toàn tự nguyện, theo đúng lời Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử”. Để tạo điều kiện cho những nhân sĩ, trí thức, các thành phần trong xã hội có thêm điều kiện thực hiện quyền ứng cử và có nguyện vọng ứng cử có đủ thời gian ứng cử và vận động tuyển cử, ngày 18/12/1945, Chính phủ đã ban hành Sắc lệnh số 76 quyết định hoãn cuộc Tổng Tuyển cử đến ngày 6/1/1946.
Ngày 31/12/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài đăng trên báo Cứu quốc số 130 nhấn mạnh: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nhà nước. Trong cuộc tổng tuyển cử, hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó. Do tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội, Quốc hội bầu ra Chính phủ, chính phủ đó thật sự là chính phủ của toàn dân”.
Cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của dân tộc cách đây nhiều thập kỷ, dưới sự chỉ đạo tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thể hiện một bầu không khí dân chủ thực sự trong tất cả mọi khâu, từ việc giới thiệu người ra ứng cử đến việc tuyên truyền, tranh cử. Để mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện chủ trương “Thống nhất, thống nhất và thống nhất”, Bác và Tổng bộ Việt
Minh quyết định mời tất cả những người ngoài Mặt trận Việt Minh cùng đứng chung danh sách ứng cử. Hành động này chứng tỏ Chính phủ và Việt Minh luôn luôn tôn trọng quyền tự do dân chủ của nhân dân, tôn trọng người tài, đoàn kết mọi lực lượng yêu nước, thiện tâm, thiện chí vì quyền lợi tối cao của dân tộc.
Để cuộc Tổng tuyển cử thực sự dân chủ, công tác tuyên truyền, vận động diễn ra rất sôi nổi và phong phú khắp cả nước. Các cơ quan thông tin đại chúng, nhất là các báo Cứu Quốc, báo Sự Thật giữ vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn, cổ vũ quần chúng, đấu tranh phê phán sự xuyên tạc của các lực lượng chính trị đối lập. Ðặc biệt, tờ Nhật báo Quốc hội xuất bản ở Hà Nội tập trung giới thiệu khả năng, thành tích và chương trình hành động của những người ứng cử. Danh sách những người ứng cử ở các tỉnh, thành phố cũng được công bố công khai để nhân dân tự do tìm hiểu, lựa chọn khi bầu cử. Việt Minh ở cấp cơ sở còn trực tiếp tuyên truyền, phổ biến đến nhân dân những kiến thức cơ bản nhất về Quốc hội, về quyền bầu cử, ứng cử của công dân bằng cách ở cùng với dân, làm đồng, xay lúa, lấy bèo, cùng dân dạy chữ, đọc sách. Cụ Nguyễn Văn Tố (nguyên là Chủ sự Trường Viễn đông Bác Cổ, lúc đấy là Bộ trưởng Chính phủ Lâm thời), khi về làng quê đã nói: “Tôi ngạc nhiên nhận thấy dân trí của dân ta đã lên cao đến một bậc, trước chưa dám mong được thế, ai cũng luôn nhắc đến chữ “độc lập” và hiểu cái quyền của mình lắm và chắc hẳn là biết dùng cái quyền của mình một cách sáng suốt”.
Đã có hàng nghìn người tham gia ứng cử, mỗi đơn vị bầu cử số ứng cử viên nhiều hơn gấp nhiều lần số đại biểu được bầu. Ví dụ, ở tỉnh Quảng Nam được bầu 15 đại biểu nhưng có đến 78 người ứng cử; ở thành phố Hà Nội (nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ứng cử) được bầu 6 đại biểu nhưng có 74 người ứng cử ở thành phố này. Các ứng cử viên cũng có các hình thức tiếp xúc với cử tri và vận động bầu cử khác nhau. Ở một số địa phương, nhân dân còn nghĩ ra những bài ca, bài vè, câu đối... để giới thiệu người ứng cử cho cử tri dễ nhớ tên các ứng cử viên cần bầu. Nguyên tắc bỏ phiếu kín cũng được quy định khá độc đáo và cụ thể để bảo đảm bí mật, an toàn và tự do ý chí của cử tri. Để giúp những cử tri không biết chữ thực hiện được quyền bầu cử.
Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 51 quy định: trước khi bắt đầu bỏ phiếu, sẽ lập một Tiểu ban 3 người (một người của ban phụ trách cuộc bầu cử, hai người do dân làng, tỉnh lỵ (hay khu phố) cử ra viết giúp cho người đi bầu, một người viết, hai người kiểm tra. Khi viết xong, Tiểu ban đó phải tuyên thệ trước mặt các người đi bầu rằng: viết đúng theo lời người đi bầu và giữ bí mật.
Ngày 5/1/1946, trong buổi lễ ra mắt ứng cử, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu: “Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu. Ngày mai không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện quyền bầu cử”. Người đã ra lời kêu gọi: “Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng Tuyển cử, vì ngày mai là một
ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình”(2).
Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước ta vào ngày 6/1/1946 đã diễn ra thật sự tự do, dân chủ và thành công, được tổ chức khi mà thù trong giặc ngoài đe dọa, chống phá, tình hình đất nước ở thế “ngàn cân treo sợi tóc”, hơn 90% nhân dân bị mù chữ v.v... được coi như một kỳ tích và là một mốc son lịch sử của thể chế dân chủ ở Việt Nam. Ở miền Bắc, từ vĩ tuyến 16 trở ra, từ giữa tháng 9/1945, gần 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc với danh nghĩa quân Đồng minh tràn sang giải giáp phát xít Nhật, nhưng thực chất là cướp bóc và nuôi dưỡng, câu kết với các thế lực phản động như Đảng Việt Quốc, Việt Cách, để chống phá điên cuồng cuộc Tổng Tuyển cử, ôm súng canh gác các đường, các chợ, dọa nạt cử tri, âm mưu bắt cóc, ám sát các ứng cử viên do Việt Minh giới thiệu. Ngay ở Hà Nội, chúng mang cả tiểu liên ngăn không cho đặt hòm phiếu, cấm cả nhân dân treo cờ. Ở Phú Thọ, chúng cho người xuống nhà dân thu thẻ cử tri, sai người tháo dỡ khẩu hiệu, áp phích. Ở Miền Nam, từ vĩ tuyến 16 trở vào, quân đội thực dân Pháp được quân đội Anh yểm hộ quay trở lại đánh chiếm Sài Gòn, các tỉnh Nam Bộ, cực Nam Trung bộ và Tây Nguyên. Chúng dùng quân đội, cảnh sát, mật thám khủng bố nhân dân, cướp của, đốt nhà, hòng ngăn cản tổ chức Tổng Tuyển cử. “Giặc dốt” với hơn 90% đồng bào ta bị mù chữ cũng gây không ít khó khăn trở ngại.
Hưởng ứng lời hiệu triệu thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 6/1/1946, trên khắp mọi miền của Tổ quốc, nhân dân nô nức tham gia bầu cử, bất chấp sự phá hoại điên cuồng của các thế lực xâm lược và chống đối. Trong những vùng bị địch tạm chiếm đóng, nhân dân tập trung bỏ phiếu, quân Pháp kéo đến khủng bố, nhân dân phải di chuyển thùng phiếu, nhiều nơi phải di chuyển 4 lần. Có cụ già hơn 80 tuổi đi bộ từ sáng đến tối mới đến điểm bầu. Nhiều nơi, phải khoan lỗ bắt vít dính thùng phiếu chặt xuống mặt bàn đề phòng bị cướp. Không ít những lá phiếu nhuốm máu nhân dân và tổ chức bầu cử, nhiều cán bộ, chiến sĩ hy sinh trong khi làm nhiệm vụ Tổng Tuyển cử. Mặc dù vậy, cuộc Tổng Tuyển cử đầu tiên đã thành công trên phạm vi cả nước, số cử tri tham gia bỏ phiếu là 89% (trong khi đó theo quy định của Điều 56 Sắc lệnh số 51 về Thể lệ Tổng Tuyển cử, chỉ cần 1/4 số cử tri có quyền bầu cử đi bầu thì cuộc bầu cử đã có giá trị) đã bầu được 333 đại biểu Quốc hội (Bắc bộ: 152, Trung bộ: 108 và Nam bộ: 73), trong đó 57% số đại biểu thuộc các đảng phái yêu nước và cách mạng khác nhau, 43% không đảng phái, 10 đại biểu nữ, 34 đại biểu các dân tộc thiểu số.
Quốc hội đã hội tụ các đại biểu của cả ba miền Trung Nam Bắc, là ý chí của nhân dân cả nước từ Lạng Sơn cho đến mũi Cà Mau; có đại diện của tất cả thế hệ những người Việt Nam yêu nước đương thời, từ những nhà cách mạng lão thành đã từng bôn ba nơi hải ngoại, thử thách trong nhiều nhà tù đế quốc như Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng, Lê Văn Hiến v.v... cho đến những đại biểu trẻ tuổi đang tràn đầy nhiệt huyết (người trẻ tuổi nhất là Nguyễn Đình Thi, 22 tuổi); tất cả các ngành, các giới, các giai cấp, tầng lớp
xã hội từ công nhân, nông dân, nam giới, nữ giới cho đến những nhà tư sản, công thương gia như Nguyễn Sơn Hà, Trịnh Văn Bô v.v... những nhân sĩ trí thức và các nhà hoạt động văn hóa nổi tiếng như Nguyễn Văn Tố, Hoàng Đạo Thúy, Thái Văn Long, Huỳnh Tấn Phát, Đặng Thai Mai v.v..; đại biểu của các thành phần tôn giáo trên đất nước như Thiên Chúa giáo (Linh mục Phạm Bá Trực), Phật giáo (Thượng tọa Thích Mật Thể), Cao Đài (Chưởng quản Cao Triều Phát) v.v... của tất cả các thành phần dân tộc, từ đa số đến thiểu số như Mường, Tày, Nùng, Thái, Mèo, Hán, Ba Na, Katu, Rađê, Ê đê, Khơ me v.v... của tất cả những người không đảng phái và các đảng phái chính trị như Đảng Cộng sản, Đảng Dân chủ, những đảng viên xã hội cùng những người tiến bộ trong các phái chính trị khác (Bồ Xuân Luật, Trương Trung Phụng v.v...), đặc biệt là sự có mặt của Vĩnh Thụy (tức Cựu Hoàng Bảo Đại), người vừa mới tuyên bố thoái vị trước đó 4 tháng để làm công dân của nước Việt Nam tự do và những người vốn là quan lại cao cấp của chế độ cũ như Cựu Thượng thư Bùi Bằng Đoàn v.v...
Ngày 2/3/1946, kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa 1 đã long trọng khai mạc tại Thủ đô Hà Nội. Cũng như các đại biểu khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh mang thẻ đại biểu số 305 (lúc bấy giờ gọi là “Giấy chứng minh”). Đúng 9 giờ, Người và các thành viên Chính phủ Liên hiệp Lâm thời bước lên diễn đàn. Nhạc Tiến quân ca và Hồn tử sĩ được cử lên. Nhân danh Chính phủ Liên hiệp Lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản báo cáo ngắn gọn trước Quốc hội: “Cuộc quốc dân đại hội lần này là lần đầu tiên trong lịch sử của nước Việt Nam ta. Đó là một kết quả của cuộc tổng tuyển cử ngày 6/1/1946, mà cuộc tổng tuyển cử lại là cái kết quả của sự hy sinh tranh đấu của tổ tiên ta, nó là kết quả của sự đoàn kết anh dũng phấn đấu của toàn thể đồng bào Việt Nam ta, gồm tất cả các tôn giáo, tất cả các dân tộc trên ờ cõi Việt Nam đoàn kết chặt chẽ thành một khối, hy sinh không sợ nguy hiểm tranh lấy nền độc lập cho tổ quốc...”.
Tiếp đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh báo cáo những công việc Chính phủ Liên hiệp Lâm thời đã làm trong 6 tháng qua. 10 giờ, Quốc hội tiếp tục họp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Quốc hội gửi lời chào mừng tới các đại biểu Quốc hội miền Nam vắng mặt và báo cáo việc thành lập Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến. Người nói: “Chính phủ này ra mắt gồm có các đại biểu, các đảng phái và các anh em không đảng phái, trước đây đã thương lượng và thỏa thuận với nhau, vì vậy việc tổ chức mới được nhanh chóng thế”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra danh sách Chính phủ Liên hiệp, giới thiệu tóm tắt một số vị Bộ trưởng và Kháng chiến Ủy viên Hội. Sau 4 tiếng đồng hồ làm việc khẩn trương, căng thẳng, kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa 1 đã thành công tốt đẹp. Bằng uy tín tuyệt đối của mình, Bác Hồ thực sự là linh hồn của Quốc hội, quyết định sự thành công của kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa 1. Một cuộc họp ngắn nhất trong lịch sử Quốc hội nước ta nhưng lại giải quyết những vấn đề trọng đại nhất, có tính lịch sử đối với vận mệnh của toàn dân tộc.
70 năm qua đi nhưng khí thế và bài học kinh nghiệm của cuộc Tổng Tuyển cử ngày
06/01/1946 vẫn còn sống mãi với non sông đất nước và được vận dụng, phát huy lên tầm cao mới, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, củng cố tăng cường sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, không ngừng đổi mới phương thức hoạt động của Quốc hội, gắn bó chặt chẽ hoạt động của Quốc hội với các hoạt động của Đảng, của các tổ chức chính trị xã hội khác./.

Chú thích:
1.    Trích bài viết “Bác Hồ với cuộc Tổng Tuyển cử đầu tiên” của đồng chí Vũ Kỳ trong cuốn sách “Hồ Chí Minh
-    Người mang lại ánh sáng”, Nxb Thời đại và Tạp chí Xưa và Nay, H.2011
2.    Trích bài viết “Bác Hồ với cuộc Tổng Tuyển cử đầu tiên” của đồng chí Vũ Kỳ trong cuốn sách “Hồ Chí Minh
-    Người mang lại ánh sáng”, Nxb Thời đại và Tạp chí Xưa và Nay, H.2011