"Những nguời thi đua là những nguời yêu nuớc nhất!"

Kỷ niệm 70 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi thi đua ái quốc (1948-2018):
 
Đỗ Hoàng Linh
PGĐ Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
I. Chủ tịch Hồ Chí Minh - người khởi xướng, chỉ đạo và khích lệ, động viên phong trào thi đua yêu nước:
Khi cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp của nhân dân ta bước sang năm thứ ba, nhân ngày Quốc tế lao động 1/5/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi thi đua yêu nước để tất cả mọi giai tầng xã hội: “Sĩ, nông, công, thương, binh, gái trai, già trẻ, toàn thể quốc dân ta, vô luận ở điạ vị nào, làm công việc gì, phải ra sức tham gia cuộc Thi đua yêu nước”(1). Ngày 11/6/1948, đúng dịp kỷ niệm 1000 ngày kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, nêu rõ mục đích, phương châm và khẩu hiệu của thi đua ái quốc, những nội dung thi đua cụ thể cho đồng bào để cuối cùng là nhằm thực hiện: “Dân tộc độc lập; Dân quyền tự do; Dân sinh hạnh phúc”(2). Cùng lúc đó, ông Hoàng Đạo Thúy, Cục trưởng Cục Quân huấn nhận được một lá thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh với nội dung: “Gửi ông Hoàng Đạo Thúy; Lão đồng chí! Nay có một việc rất quan trọng, cần một người có sáng kiến, nhiều kinh nghiệm và tính xốc vác. Tức là việc làm Tổng Bí thư Ban Thi đua Trung ương. Tôi muốn nhờ đồng chí phụ trách việc ấy. Chắc đồng chí sẽ không từ chối. Vẫn biết bên quốc phòng và Tổng chỉ huy cũng cần đồng chí giúp, song nếu đồng chí bằng lòng, thì tôi sẽ tìm cách thu xếp. Chào thân ái và quyết thắng. Hồ Chí Minh”(3). Khi ông Hoàng Đạo Thúy lên gặp, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Ông Tổng Bí thư trước nhận nhiệm vụ một tháng mà chưa bắt đầu làm, nên tôi phải nhờ cụ. Tôi trao cho cụ toàn quyền hành động. Tuyên truyền giỏi hơn Mỹ thì càng tốt. Cần tiền bao nhiêu thì cứ lĩnh. Nếu không lĩnh được thì bảo tôi. Nếu thiếu cán bộ thì lấy một nửa văn phòng của tôi. Yêu cầu là sau một năm phải có phong trào”(4). Trước khi chia tay, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn tặng ông Thúy một chiếc quạt thước mà thanh niên làng Canh Hoạch (Hà Tây) biếu Người và nói thêm: “Cụ cầm cái quạt này để quạt cho phong trào lớn mạnh”. Trên cái quạt vốn có trổ hai bài thơ, trong đó một bài viết: Ra tay quạt gió xua nồng; Cho dân bức bối thỏa lòng ước mong; quạt lồng Nam, Bắc, Tây, Đông; Quạt cho hòa khí xuân phong trở về! Hiểu được ý nghĩa sâu xa và tầm quan trọng của nhiệm vụ gây dựng phong trào thi đua, về đơn vị, ông Hoàng Đạo Thúy bắt tay ngay vào viết chương trình, nội dung, kế hoạch thi đua yêu nước và gửi lên Phủ Chủ tịch. Chỉ một ngày sau, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chuyển lại cho ông Thúy tập bản thảo đã sửa chữa cả nội dung, chính tả và viết thêm một số vấn đề cụ thể: “1, Từ khu đến huyện, mỗi cán bộ phải phụ trách một xã. 2, Cán bộ phải hiểu thấu, làm cho dân hiểu, thấy lợi hại. 3, Cán bộ mà không biết, là không biết. 4, Trước khi phát động, phải cùng với cán bộ địa phương khai hội, định kế hoạch, lập tổ xung phong. 5, Có khen thưởng để người được khen thưởng tiến lên và giúp đỡ người khác. 6, Từ cá nhân đến đoàn thể, việc tổ chức công tác là rất mực cần thiết. 7, Ban thi đua có chương trình huấn luyện chưa? (Kèm theo có hẳn một sơ đồ cách làm theo kiểu vết dầu loang”(5). Với việc chọn đúng cán bộ có năng lực cùng sự quan tâm sâu sát, chỉ đạo kịp thời, quyết đoán của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào thi đua yêu nước đã bùng lên mạnh mẽ, sôi nổi và rộng khắp toàn quốc, tạo ra một động lực tinh thần to lớn và một khí thế cách mạng mới trong xã hội. Phong trào không chỉ là một hoạt động tích cưc, sáng tạo trong lao động sản xuất của cải vật chất phục vụ đời sống kháng chiến mà còn thể hiện sự đoàn kết dân tộc, đoàn kết tín ngưỡng tôn giáo và các tầng lớp nhân dân vì nền độc lập tự do của Tổ quốc. Phong trào thi đua yêu nước đã góp phần to lớn vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Khi đất nước bước vào thời kỳ cách mạng mới, vừa xây dựng CNXH ở miền Bắc vừa tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, đấu tranh thống nhất nước nhà thì phong trào thi đua yêu nước đã liên tục phát triển cùng với những tên gọi gắn với từng đơn vị, địa phương có thành tích tốt hay phù hợp với đặc điểm các giai tầng của xã hội để phục vụ nhiệm vụ chính trị của cả hai miền: quân đội có Ba nhất, nông nghiệp có Đại phong, công nghiệp có Duyên hải, thủ công nghiệp có Thành công, thanh niên có Ba sẵn sàng, phụ nữ có Ba đảm đang, y tế có Thầy thuốc như mẹ hiền, nhà trường có Hai tốt, trí thức có Ba quyết tâm, thiếu niên nhi đồng có Làm nghìn việc tốt, các chi bộ đảng xây dựng Chi bộ bốn tốt, các đơn vị, tập thể thi đua đạt danh hiệu Lao động xã hội chủ nghĩa…Năm 1952, tại Đại hội Thi đua yêu nước lần thứ nhất (ĐHTĐYN) mới có trên 150 chiến sĩ thi đua công, nông, binh và lao động trí óc toàn quốc về dự. Đại hội tuyên dương 7 Anh hùng tiêu biểu và tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất cho 23 chiến sĩ xuất sắc. Năm 1958, ĐHTĐYN lần thứ hai đã có 236 chiến sĩ thi đua lao động chân tay và trí óc, 127 chiến sĩ thi đua nông nghiệp, 71 chiến sĩ thi đua của quân đội nhân dân. Năm 1962, ĐHTĐYN lần thứ ba có 45 Anh hùng Lao động, 985 Chiến sĩ thi đua toàn quốc, 267 đơn vị tiên tiến, tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa, đề nghị Nhà nước tặng thưởng 594 Huân chương Lao động, 27 Huân chương Chiến công các hạng. Năm 1967, ĐHTĐYN lần thứ tư có trên 500 đại biểu tham dự; tuyên dương 45 tập thể và 111 cá nhân Anh hùng Lao động, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Không chỉ quan tâm, động viên, khen thưởng phong trào thi đua chung lớn mạnh trên phạm vi rộng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh còn sâu sát, cụ thể đến từng đợt thi đua tại cơ sở trong các địa phương, Bộ, ngành. Người thường đến dự và nói chuyện tại các ĐHTĐ của quân đội, công an, phụ nữ, thanh niên xung phong, giao thông vận tải, nông nghiệp, công nghiệp, giáo dục… Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Số người và những tập thể được công nhận là anh hùng, chiến sĩ thi đua được tặng Huân chương, Huy chương vẫn chỉ là số ít so với hàng triệu, hàng chục triệu con người hàng ngày góp gió thành bão, đang gánh vác mọi việc”(6). Nhằm đa dạng các hình thức thi đua, nhân lên nhiều nữa những tấm gương điển hình và khen thưởng kịp thời, Người đã đề nghị xuất bản loại sách người tốt - việc tốt để phổ biến rộng rãi tới quần chúng nhân dân những tấm gương tiêu biểu trong mọi mặt của đời sống và Người đã trực tiếp thưởng gần 4000 huy hiệu cho các cá nhân có thành tích xuất sắc trong lao động, sản xuất, chiến đấu. Những tấm gương người tốt trong các phong trào thi đua và trong công việc hàng ngày không chỉ là hạt nhân tích cực, động lực của phong trào chung mà còn là những cán bộ nguồn ưu tú của Đảng, phục vụ tốt cho sự nghiệp cách mạng, bởi đó là những người: “Gương mẫu về đạo đức cách mạng. Họ đặt lợi ích chung của dân tộc lên trên lợi ích của cá nhân. Họ toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân chứ không phải nửa tâm, nửa ý. Họ không sợ khó nhọc ra sức vượt mọi khó khăn để hoàn thành và hoàn thành vượt mức nhiệm vụ mà Đảng và chính phủ giao cho, không ganh tỵ về địa vị và hưởng thụ. Họ không giấu nghề, không dìm những người anh em chung quanh mình, họ giúp đỡ mọi người cùng tiến bộ. Họ không tự kiêu, tự mãn, tự ti, tự lợi”(7).
II. Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng nhất của ý chí, tinh thần thi đua yêu nước và đạo đức cần kiệm liêm chính, chí công vô tư:
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng thi đua còn nhằm để cải tạo con người, vì vậy thông qua ý thức và hành động thi đua, những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam được bồi đắp và phát triển thêm trong chế độ XHCN, đồng thời cũng là phương thức đấu tranh chống lại, hạn chế, cô lập những hiện tượng tiêu cực, thói hư tật xấu trong xã hội và trong mỗi con người. Như vậy, thi đua yêu nước cũng chính là: “Một cuộc cách mạng nội bộ, một cuộc đấu tranh gay go giữa cái tốt và cái xấu, cái cũ và cái mới, giữa đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và kẻ địch là tệ nạn tham ô, lãng phí, quan liêu”(8). Ngay từ khi lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn đi tiên phong, nêu cao nguyên tắc đạo đức và là một tấm gương đạo đức mẫu mực sáng ngời. Nhà báo Mỹ David Halbertam đã viết: “Hồ Chí Minh là một trong những hình tượng đặc biệt của thời đại này: ông có chất của Gandhi, Lênin nhưng rất Việt Nam. Ông Hồ là một người Việt Nam lịch lãm, khiêm nhường, nói năng nhẹ nhàng, châm biếm hài hước và luôn mặc bộ quần áo giản dị nhất, kiểu phục trang làm ông không xa lạ với những người nông dân nghèo. Càng ở cương vị cao hơn, ông càng giản dị và trong sạch hơn, dường như ông luôn luôn giữ được những giá trị trường tồn của người Việt Nam”(9). Thời kỳ về nước hoạt động cách mạng ở Pắc Bó (Cao Bằng), lãnh tụ Hồ Chí Minh phải ăn cháo bẹ, rau măng. Khi đi công tác, ngoài những đồ đạc cần thiết mang theo, Người cho làm món thịt rang Việt Minh theo công thức một thịt- một muối- một ớt. Như vậy đi tới đâu chỉ cần thổi cơm, tìm thêm rau xanh nấu canh, rồi đưa “thịt” của nhà ra ăn. Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, trở về thủ đô Hà Nội làm việc ở Bắc Bộ Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng ăn cơm gạo đỏ, muối vừng với anh em văn phòng, bảo vệ, lái xe.Tháng 6/1946 sang thăm Pháp với tư cách thượng khách của Chính phủ Pháp, các đồng chí cùng đi thấy ngạc nhiên vì giữa thủ đô Paris hoa lệ, mà Người vẫn giữ những thói quen bình dân như ở trong nước. Sau đó thì ai cũng hiểu rằng, Người muốn cho tất cả các đồng chí biết tự kiềm chế trước mọi cám dỗ của cuộc sống xa hoa. Trên đường trở về nước trên chiến hạm Pháp, một nhân viên được cử tới phục vụ Người đã sửng sốt báo cáo với hạm trưởng rằng: Ngài Chủ tịch nói cứ để Ngài tự giặt lấy quần áo! Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở mọi người rằng nước ta còn nghèo, nên sống giản dị, tiết kiệm là thói quen tốt, cần rèn luyện thường xuyên. Sự giản dị, phong thái ung dung ấy của Người bắt nguồn từ một thế giới quan và nhân sinh quan cách mạng. Nó kết hợp nhuần nhị những nét cao đẹp của tính cách truyền thống dân tộc với đạo đức cộng sản, nó có sức thu hút mạnh mẽ tình cảm tất cả mọi người.
Quay lại chiến khuViệt Bắc, suốt những năm dài kháng chiến Chủ tịch Hồ Chí Minh ở trong nhà tre mái lá, lán trại với các vật dụng là bàn ghế gỗ, ống tre đựng tài liệu, máy chữ, vài cuốn sách, bút giấy, hòn đá cuội luyện gân tay.... Di chuyển đến địa điểm nào, Người cũng động viên các đồng chí cùng tăng gia sản xuất để cải thiện đời sống. Kháng chiến thắng lợi, trở về Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh không ở trong Phủ Toàn quyền cũ bề thế sang trọng mà chọn cho mình ngôi nhà của một thợ điện, nơi mà mùa hè mặt sân ximăng xung quanh khiến nhiệt độ trong nhà khá cao, rất nóng nực. Trung ương đề nghị xây nhà, mấy năm sau Người quyết định làm một căn nhà nhỏ như kiểu nhà đồng bào miền núi mà Người đã từng ở trong những năm kháng chiến. Nǎm 1958, ngôi nhà sàn bằng gỗ dổi hoàn thành, xung quanh có mành che, tầng dưới để thoáng. Tầng trên chỉ có những đồ dùng rất quen thuộc: chiếc giường đơn trải chiếu cói, cái tủ nhỏ, bộ bàn ghế, trên bàn để đèn, lọ hoa, chiếc máy thu thanh, cái quạt nan, mấy quyển sách. Trước nhà là một vườn hoa nhỏ, trồng nhiều loại hoa thơm. Phía ngoài là hàng rào dâm bụt gợi nhớ hình ảnh quê hương xứ Nghệ. Trong cái ao nhỏ trước nhà sàn, Người nuôi cá vừa cải tạo môi trường sống trong lành, cải thiện đời sống, vừa là một cách thư giãn sau giờ làm việc. Nhà sàn của Người tạo ra nét bình dị gần gũi với mọi người dân Việt Nam ở khắp mọi miền Tổ quốc. Không chỉ nơi ở đơn sơ, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thật giản dị. Đôi dép cao su làm từ lốp cũ xe ôtô đã góp phần tạo nên huyền thoại về một vị Chủ tịch nước dân chủ nhất thế giới như báo chí Ấn Độ đã từng ca ngợi. Rồi bộ quần áo lụa nâu, bộ quần áo kaki đều có vết vá. Chỉ khi đi nước ngoài Người mới đồng ý may bộ quần áo dạ đen.
Bữa ăn thường ngày của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Khu Phủ Chủ tịch cũng chỉ có một bát canh, một món xào hoặc thịt luộc, cá quả hoặc cá bống kho gừng và cà dầm tương hoặc đường ớt. Thức ăn không bao giờ để thừa và đặc biệt là sau bữa ăn, Người thường tự mình sắp xếp gọn gàng bát đĩa trên bàn để các đồng chí phục vụ đỡ vất vả. Khi đi thăm các địa phương, Chủ tịch Hồ Chí Minh bảo anh em phục vụ chuẩn bị cơm mang theo, hễ lúc nào thuận tiện thì dừng lại ăn. Người nói với anh em đi cùng: Người ta dọn ra một bữa sang. Bác cháu mình có khi chẳng ăn và chẳng ăn hết. Nhưng rồi để lại cái tiếng Bác Hồ đến thăm cũng làm cơm thế này, thế nọ, cũng điều động người làm mất thời gian. Thế là tự mình, Bác lại bao che cho cái chuyện xôi thịt…Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm khi thăm các địa phương, đơn vị là để nắm tình hình thực tế và góp ý, nhắc nhở về các công việc, chứ không phải xuống dự tiệc tùng, gây tốn kém. Có tỉnh mặc dù đã được báo trước là Người có mang cơm theo, nhưng vẫn sắm sửa cỗ bàn thịnh soạn và Người đã phê bình rất nghiêm khắc. Trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh cương quyết đề nghị nhà bếp cho ăn cơm độn ngô 50% như tất cả nhân dân. Hàng ngày, Thông tấn xã Việt Nam đều đưa bản tin lên, sau khi xem xong, Người giữ lại những bản tin cần thiết, còn lại chuyển cho văn phòng Phủ Chủ tịch để anh em làm phong bì tiết kiệm hoặc dùng làm giấy nháp. Ngày 10/5/1969, Người đã viết toàn bộ đoạn mở đầu bản Di chúc lịch sử bằng mực xanh vào mặt sau tờ Tin tham khảo đặc biệt số ra ngày 3/5/1969.
Phong cách sống bình dân, giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đơn thuần là cần kiệm, là tấm lòng sẻ chia và tinh thần đồng cam cộng khổ với dồng chí, đồng bào mà còn thể hiện nhiều ý nghĩa nhân văn rất cao đẹp. Năm 1959, TW Đảng CS Liên Xô mời Chủ tịch Hồ Chí Minh sang nghỉ hè một tháng. Trước khi về nước, Người đã gửi lạithủ quỹ Đảng CS Liên Xô một bức thư kèm theo 5000 rúp mà bên bạn biếu Người và đồng chí thư ký để tiêu vặt nhưng Người đã không sử dụng! Mùa hè năm 1967, khi biết tình hình các chiến sĩ trực chiến trên nóc Hội trường Ba Đình thiếu nước uống, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bảo đồng chí thư ký rút khoản tiền tiết kiệm của Người (bao gồm tiền lương, tiền nhuận bút bài viết) được hơn 25.000 đồng (lúc đó tương đương khoảng 60 lạng vàng) chuyển cho Bộ Tư lệnh phòng không để mua nước ngọt cho các chiến sĩ trực chiến trên toàn miền Bắc. Ngày 15/7/1969, Charles Fournio, nhà báo Pháp cuối cùng được phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chứng kiến và kể lại: “Khi nghe nói đến những dự kiến tổ chức mừng thọ Người 80 tuổi (vào dịp 19/5/1970), Hồ Chủ tịch đã tỏ ý không tán thành tất cả mọi biểu hiện chú ý đặc biệt đến Người và nói rõ là không được bày vẽ gì nhân dịp này, chừng nào còn cần thêm tiền để làm nhà trẻ, trường học, bệnh viện và thư viện”(10).Tại kỳ họp Quốc hội khóa II lần thứ 6, các đại biểu Quốc hội đã nhất trí trao tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh Huân chương Sao Vàng, tuy rất xúc động nhưng Người nhất quyết từ chối vì: Tự xét chưa có công huân xứng đáng với sự tặng thưởng cao quý của Quốc hội. Đúng như Đảng ta đã khẳng định: “Cuộc đời Hồ Chủ tịch trong như ánh sáng. Đó là tấm gương tuyệt vời về chí khí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, lòng nhân đạo và yêu mến nhân dân thắm thiết, đạo đức chí công vô tư, tác phong khiêm tốn giản dị. Tư tưởng và đạo đức cao cả của Người mãi mãi soi sáng và nâng cao tâm hồn chúng ta”(11).
III. Tư tưởng thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng hiện nay:
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ rằng thi đua là hoạt động thiết thực, đòi hỏi sự tự giác, tích cực và liên tục vì mục đích: “Thi đua ái quốc là ích lợi cho mình, ích lợi cho gia đình và ích lợi cho làng, cho nước, cho dân tộc”(12). Nhưng phong trào thi đua không thể hô hào chung chung, mà phải có hành động cụ thể, từ trên xuống dưới, đặc biệt là các cấp lãnh đạo phải đi đầu trong việc chống quan liêu, tham ô, tham nhũng. Tại phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 30/12/1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê bình thẳng thắn: “Tôi đề nghị các vị Bộ trưởng rèn luyện cho mình có đôi chân hay đi, đôi mắt hay nhìn, cái óc hay nghĩ. Chính phủ ta tuy đã cố gắng nhưng phải cố gắng nhiều hơn nữa. Trong khi người công nhân, người nông dân, người chiến sỹ hy sinh làm tròn nhiệm vụ của mình, còn chúng ta những người lãnh đạo có khi lại làm chưa hết nhiệm vụ của mình. Tôi nói như vậy có đồng chí không thích, nhưng tôi nói có sách, mách có chứng cả. Chúng ta phải gương mẫu trong quản lý và bảo vệ của công. Việc đoàn kết nội bộ trong các Bộ, các ngành chưa được tốt. Lề lối làm việc của chúng ta cũng có nhiều điểm chưa tốt, có tình trạng là nói mà không nghĩ, nghĩ mà không quyết, quyết rồi mà không làm”(13). Thực tế là sau khi đất nước thống nhất, phong trào thi đua yêu nước có những khoảng thời gian trầm lắng vì chưa được quan tâm thích đáng, có phong trào rồi nhưng nội dung chưa thiết thực và thiếu động lực cần thiết để lan tỏa trong toàn xã hội. Năm 2001, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã ra nghị quyết: “Tổ chức các phong trào, nội dung thi đua yêu nước, đoàn kết xây dựng đời sống mới”(14). Tháng 5/2004, Bộ Chính trị đã ra chỉ thị 39/CT-TƯ về việc “tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến”. Ngày 22/2/2007, Ban bí thư TƯ ra chỉ thị 19/CT-TƯ để kỷ niệm 60 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi thi đua ái quốc vàtừ đó các Bộ, ngành, giới, các tổ chức chính trị xã hội cả nước đã đồng loạt hưởng ứng sôi nổi, mạnh mẽ phong trào thi đua lao động, sáng tạo. Năm 1986, ĐHTĐYN lần thứ năm có 218 đơn vị và tập thể Anh hùng, 111 cá nhân Anh hùng và 223 chiến sĩ thi đua toàn quốc thuộc đủ các tầng lớp nhân dân, các lứa tuổi. Năm 2000, ĐHTĐYN lần thứ sáu có trên 900 đại biểu là Anh hùng, Chiến sĩ thi đua toàn quốc và nhân tố mới, điển hình tiên tiến. Trong đó, có 407 tập thể và cá nhân anh hùng, 298 chiến sĩ thi đua toàn quốc, 195 điển hình tiên tiến. Năm 2005, ĐHTĐYN lần thứ bảy có 1160 đại biểu chính thức, 87 Anh hùng; 122 Chiến sĩ thi đua toàn quốc, 10 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, 53 đại biểu dân tộc thiểu số, 10 tài năng trẻ, 5 thiếu niên tuổi nhỏ lập được thành tích xuất sắc, 5 người Việt Nam ở nước ngoài và 5 người nước ngoài đã có công góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam. Năm 2010, ĐHTĐYN lần thứ tám có 1500 đại biểu, trong đó có 334 đại biểu là cá nhân, đại diện tập thể Anh hùng Lao động, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Chiến sỹ thi đua toàn quốc; 995 điển hình tiên tiến, tiêu biểu xuất sắc trên các lĩnh vực. Như vậy có thể nhận thấy phong trào thi đua yêu nước đã có bước phát triển khá ấn tượng về cả chiều sâu và bề rộng, số lượng và chất lượng các điển hình thi đua yêu nước trong mọi lứa tuổi và lĩnh vực.
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước vừa tròn 70 năm, vẫn đang ngày càng cho thấy ý nghĩa, giá trị trong đời sống xã hội và đã mang lại nhiều kết quả to lớn, thiết thực hơn. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, cùng với tinh thần thi đua yêu nước của thời đại Hồ Chí Minh và dưới sự chỉ đạo đúng đắn, động viên kịp thời của Đảng, Nhà nước về thi đua, khen thưởng trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước, kết hợp với các phong trào: học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, đấu tranh phòng chống tham nhũng, phong trào thi đua yêu nước nhất định sẽ đưa sự nghiệp đổi mới của đất nước nhanh chóng thành công. Và mỗi chúng ta càng phải thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua, những người thi đua là những người yêu nước nhất”(15)./
 
Chú thích:
1, Hồ Chí Minh toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia 1995. Tập V, tr 420
2, Sđ d  nt  tr 450
3- 4-5, Kỷ niệm về Bác. Nxb Thông Tấn 2005, tr 50, 52, 55
6, Hồ Chí Minh toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia 2002. Tập XII, tr 548
7, Sđ d. Tập IX,  tr 200
8, Sđ. D. Tập X, tr 578
9, Ho- David Halberstam. Nxb Random New York 1971
10, Hồ Chí Minh- một người châu Á của mọi thời đại. Nxb Chính trị quốc gia 2010, tr 728
11, Hồ Chí Minh tiểu sử. Nxb Lý luận chính trị 2006, tr 728
12, Hồ Chí Minh toàn tập. sđ d. Tập V, tr 659
13, Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử. Nxb Chính trị quốc gia 2009. Tập X, tr 157
14, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính trị quốc gia
15, Hồ Chí Minh toàn tập. sđ d. Tập VI, tr 270