Vận dụng tư tuởng Hồ Chí Minh trong đổi mới giáo dục và đào tạo ở nuớc ta hiện nay


Th.s Lường Thị Lan
Phòng ST-KK-TL
Ngay khi nước nhà độc lập, trên báo Cứu quốc số ra ngày 4/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Chống nạn thất học”, Người chỉ ra rằng: “Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân giàu nước mạnh. Mọi người đều phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới có thể tham gia công cuộc xây dựng nước nhà”(1). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định ngu dốt là một thứ giặc nguy hiểm và cùng với giặc đói, giặc ngoại xâm, chúng ta cần nhanh chóng tiêu diệt. Hơn 90% dân số Việt Nam sau cách mạng tháng Tám là mù chữ. Vì vậy, phải thực hiện ngay chính sách xóa nạn mù chữ và khẩu hiệu Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra lúc đó là “Tăng gia sản xuất. Chống nạn mù chữ”. Như vậy muốn tính kế “sâu rễ, bền gốc” không có con đường nào khác là coi trọng công tác giáo dục và đào tạo con người. Giáo dục và đào tạo thực sự gắn liền với sự tồn vong của mỗi dân tộc.
Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giáo dục là nhằm đào tạo ra những con người làm việc trung thực, tận tụy, hết lòng hết sức để cống hiến hết mình, tất cả vì dân, do dân. Sản phẩm của giáo dục là tạo ra con người phải đủ đức đủ tài. Trong “Thư gửi các cán bộ giáo dục, học sinh, sinh viên các trường và các lớp bổ túc văn hóa” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất”(2). Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người phục vụ nhân dân, phục vụ tổ quốc. Nhớ lại lời căn dặn của Bác năm 1955, nhân dịp khai giảng năm học mới: “Trường học của chúng ta là trường học của nhân dân, nhằm mục đích đạo tạo những công dân và cán bộ tốt, những người chủ tương lai tốt của nước nhà và cần xây dựng tư tưởng: Dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân”(3). Lời căn dặn ấy hơn 60 năm qua vẫn còn nguyên giá trị lịch sử.
          Giáo dục và đào tạo luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước coi trọng, là “quốc sách hàng đầu” trong công cuộc xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới. Từ năm 1986 đến nay nền giáo dục và đào tạo đã trải qua ba lần cải cách. Tuy nhiên ngoài những thành tựu đạt được đáng ghi nhận thì bên cạnh đó, nền giáo dục Việt Nam bộc lộ không ít yếu kém, thiếu sót và đi sau so với mặt bằng chung nền giáo dục thế giới. Như Nghị quyết số 29-NQ/TW Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã nêu rõ: "Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành. Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc. Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp. Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả... Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn".
Trước tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước cùng với những biến chuyển liên tục của của tình hình thế giới, yêu cầu bức thiết đối với ngành giáo dục của chúng ta hiện nay là làm thế nào để nền giáo dục và đào tạo đạt được bước chuyển mạnh mẽ, đáp ứng được yêu cầu của công cuộc xây dựng đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Vì vậy, Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã ban hành Nghị quyết (Nghị quyết số 29-NQ/TW) với nội dung “Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và đào tạo, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội”(4). Đến Đại hội Đảng lần thứ XII tiếp tục thực hiện chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đề ra phương hướng: Giáo dục là quốc sách hàng đầu. Phát triển giáo dục đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với tiến bộ khoa học, công nghệ; phấn đấu trong những năm tới, tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả; phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp và yêu cầu đổi mới đối với ngành giáo dục và đào tạo đã được Nghị quyết nêu ra rất rõ ràng, phù hợp đúng đắn và đầy đủ. Tuy nhiên, nhìn nhận lại từ những lần cải cách giáo dục trước đây ta thấy rằng dù chủ trương, đường lối, chính sách hoàn toàn đúng đắn và kịp thời nhưng thực tế những lần cải cách đó, ngành giáo dục vẫn cứ loay hoay không thể tìm ra biện pháp thực hiện hiệu quả.
          Trong “Thư gửi hội nghị giáo dục toàn quốc” tháng 7/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra yêu cầu đối với ngành giáo dục và xác định tính chất của ngành giáo dục lúc bấy giờ là “Chúng ta phải có một nền giáo dục kháng chiến và kiến quốc”(5). Để xây dựng được nền giáo dục kháng chiến kiến quốc, Bác nêu ngắn gọn sáu yêu cầu: 1. Phải sửa đổi triệt để chương trình giáo dục cho hợp với sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc. 2. Muốn như thế, chúng ta phải có sách kháng chiến và kiến quốc cho các trường. 3. Chúng ta phải sửa đổi cách dạy cho hợp với sự đào tạo nhân tài kháng chiến và kiến quốc... 4. Chúng ta phải đào tạo cán bộ mới và giúp đỡ cán bộ cũ theo tôn chỉ của kháng chiến và kiến quốc. 5. Về bình dân học vụ... Bây giờ, số đông đồng bào đã biết đọc viết thì chúng ta phải có một chương trình để nâng cao thêm trình độ văn hóa phổ thông cho đồng bào.6. Với sự lãnh đạo của bộ trưởng và sự cố gắng thi đua ái quốc của toàn thể nhân viên giáo dục, tôi chắc hội nghị sẽ có một chương trình hoạt động thiết thực để đi đến thành công”(6). Vậy tính chất mục tiêu mà nền giáo dục hiện nay chúng ta đang hướng đến là gì? Phương pháp thực hiện như thế thế nào?... Tất cả những câu hỏi này đều được trả lời đầy đủ trong Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ XI và Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ XII về vấn đề giáo dục. Nhưng thực tế kết quả giáo dục hiện nay cho thấy thật sự lời nói không đi đôi với việc làm, nói nhiều hơn là làm, hô hào khẩu hiệu hơn là bắt tay vào thực hiện. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao công tác giáo dục, coi giáo dục là một mặt trận: “Văn hoá giáo dục là một mặt trận quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà”(7). Nhưng suốt thời kỳ đổi mới chúng ta chưa thực sự đặt giáo dục vào đúng vị trí của nó trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội. Khi Hội nghị lần thứ XI của Ban chấp hành trung ương Đảng ra nghị quyết đổi mới giáo dục và đào tạo, lúc này Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo Phạm Vũ Luận mới xác định “đổi mới giáo dục là một trận đánh lớn”. Vậy làm sao để “trận đánh lớn” này thành công thiết nghĩ là một bài toán không hề đơn giản. Sau cách mạng tháng Tám, Bác coi giáo dục là một mặt trận vì lúc đó nạn mù chữ thực sự là kẻ thù nguy hiểm cần phải đánh để nhân dân ta biết chữ. Ngày nay Bộ trưởng coi đổi mới giáo dục là “một trận đánh lớn”, vậy kẻ thù ở đây là gì? Mục đích đánh ở đây là gì? Và đánh như thế nào? Chúng ta cần xác định cho rõ và chính xác thì mới đưa ra được những biện pháp thực hiện hiệu quả xứng tầm với việc Đảng và Nhà nước ta luôn coi "Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu".
          Đổi mới giáo dục và đào tạo căn bản và toàn diện là đổi mới từ tư tưởng, đường lối, cơ chế chính sách, cách thức tổ chức và quản lý của nhà nước. Đường lối đúng đắn nhưng phải có biện pháp thực hiện, tổ chức kiểm tra giám sát chặt chẽ để không đi chệch hướng sai đường. Tránh tình trạng Nghị quyết ban hành thì đúng đắn nhưng thực hiện xuống đến trường, đến lớp thì đã sai lệch. Mỗi cán bộ ngành giáo dục luôn khắc ghi bài học Bác dạy chữ “Quan liêu” khi về thăm Lớp “chính huấn” chính trị Trung ương cao cấp năm 1952. Trong bầu không khí lớp học ai cũng háo hức được nghe Bác kể chuyện, bỗng Bác cầm que vạch một vạch, rồi hai vạch dọc từ trên xuống dưới, ban đầu thì thẳng đứng, xuống đến vạch ngang thứ hai đã “queo”, vạch ba thì “quẹo”, vạch bốn như một con giun, loằng ngoằng như cái đuôi chuột nhắt... Mỗi lần vạch một vạch Bác đều hỏi xem có ai biết đó là chữ gì nhưng không ai trả lời chính xác. Cuối cùng Bác nói: “Chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng đúng đắn... Đến tỉnh đã hơi cong, đến huyện đã “tả hữu”, đến xã đã sai lệch… Cho nên chữ ấy là chữ “quan liêu”. Các chú không học nhưng biết và vẫn làm. Còn cái các chú học, thì các chú lại ít làm…”(8). Trong quan điểm chỉ đạo, Nghị quyết nhấn mạnh “Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa”, nhưng thực tế hiện nay khi Bộ Giáo dục - Đào tạo cho xây dựng trường Amsterdam 461 tỷ,  trường Nguyễn Huệ 280 tỷ… trong khi ở miền núi, vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn là những ngôi trường nhà tranh, vách tạm bợ, mái tôn, dột nát học sinh học co ro, dựng lều tạm bợ để học bán trú tại trường điển hình như trường THCS Trương Ngọc Khang và THPT Tây Trà - Quãng Ngãi; THCS Mường Lý, Thanh Hóa, THPT Hướng Phùng, Hướng Hóa - Quảng Trị… Nếu chúng ta điều chỉnh lại cho hợp lý thì các chính sách không còn bị “queo”, “quẹo” nữa.
Nhiệm vụ của chương trình đổi mới của Nghị quyết đưa ra là “nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề. Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân”. Về chủ trương đường lối Đảng ta đề ra là rất đúng đắn phù hợp với xu thế đào tạo giáo dục hiện nay ở trên thế giới. Nhưng nhìn vào chương trình giáo dục và kết quả đào tạo hiện nay thì chưa thực sự tương xứng với nhiệm vụ đề ra. Đổi mới liên tục trong các kỳ thi bậc đại học khiến cho chất lượng giáo dục ngày càng giảm xuống. Khi chúng ta tổ chức gộp kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học và đại học vào một, thi và chấm thi trực tiếp tại địa phương đã tạo ra những kẻ hở không nhỏ trong giáo dục mà điển hình là kỳ thi đại học năm 2018 vừa qua đã xảy ra sai phạm nghiêm trọng tại các tỉnh như: Hà Giang, Sơn La, Hòa Bình... khi hàng chục bài thi điểm thi rất thấp, thậm chí điểm liệt được sửa thành điểm 8, điểm 9. Trong khi đó các trường đào tạo đại học thì tràn lan từ công lập, dân lập hay quốc tế thậm chí một trường không thuộc lĩnh vực y tế cũng có thể đào tạo được y bác sĩ như Trường đại học Kinh doanh và Công nghệ...; các trường từ hệ trung cấp lên hệ cao đẳng, cao đẳng lên hệ đại học mà không có tiêu chuẩn, tiêu chí rõ ràng dẫn đến hệ quả chất lượng đào tạo không đảm bảo, sinh viên tốt nghiệp ra trường không xin được việc làm hoặc phải làm trái ngành. Đây cũng là một trong những vấn đề mà Bộ Giáo dục  - Đào tạo phải kết hợp chặt chẽ, hiệu quả với các bộ, ngành liên quan để điều chỉnh nhiệm vụ đào tạo bậc đại học sát với tình hình thực tế và nhu cầu phát triển đa dạng của các ngành nghề kinh tế nước ta hiện nay cũng như trong tương lai.
Dạy và học là hai hoạt động cốt lõi của ngành giáo dục. Đổi mới giáo dục và đào tạo thực chất là đổi mới hai hoạt động này để tạo ra con người mới xã hội chủ nghĩa có đủ đức đủ tài. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là cái gì? Là đạo đức cách mạng. Đó là cái gốc, rất là quan trọng. Nếu mà không có đầy đủ đạo đức cách mạng thì có tài gì cũng vô dụng”(9). Đối với nhiệm vụ của người thầy giáo, cô giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm: “Anh chị em là những người “vô danh anh hùng”. Tuy là vô danh nhưng rất hữu ích. Một phần tương lai của dân tộc nước nhà nằm trong sự cố gắng của anh chị em”(10). Thiết nghĩ, những lời ân cần ấy cũng là điều trông đợi đối với tất cả cô giáo, thầy giáo và toàn ngành giáo dục. Thầy giáo, cô giáo là những kỹ sư tâm hồn, là những người chèo lái con thuyền đưa các em học sinh cập bến bờ tri thức. Lâu nay trong công tác giảng dạy người thầy luôn là trung tâm chủ động truyền thụ kiến thức, dạy kiểu “nhồi sọ”, học sinh là người tiếp thu kiến thức một cách thụ động. Giờ đây lấy học sinh làm trung tâm, chủ động trong quá trình học thay vì giáo viên và thầy cô giáo đóng vai trò hướng dẫn, dẫn dắt các em tiếp thu kiến thức. Đây cũng là bài học sâu sắc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy các thầy, cô giáo trường Chu Văn An khi Bác về thăm năm 1960, đó là: “Khi đến lớp 6A (như lớp 8 bây giờ), thấy học viên tỏ vẻ chưa hiểu bài khi nghe giáo viên thao thao giảng, Bác khẽ bảo: “Để Bác giảng” rồi Bác đứng lên bục, dùng phương pháp đàm thoại nên không khí lớp học trở nên sôi nổi, các học viên tiếp thu bài giảng nhanh”. Và sau dự giờ thị phạm ấy, Bác còn ân cần dặn dò: “Trong công tác giảng dạy phải lấy học viên làm trung tâm, dạy sao cho người học nắm được bài ở lớp”. Đồng thời Bác nhắc nhở các nhà trường “không nên đào tạo ra những con người thuộc sách làu làu…”(11).  
Chúng ta đều thấy rõ rằng: Dạy tốt phụ thuộc nhiều vào tài năng, nhân cách của người thầy, và nếu không có những người thầy miệt mài gắng sức, dạy dỗ, chăm sóc, uốn nắn những mầm non của đất nước qua mỗi giai đoạn kế tiếp nhau từ mẫu giáo đến khi tốt nghiệp những trường dạy nghề, cao đẳng, đại học và trên đại học, thì không thể có những hiền tài, những nguyên khí của mỗi quốc gia. Bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay đã ảnh hưởng rất nhiều đến công tác giảng dạy của bộ phận không nhỏ đội ngũ giáo viên. Đồng lương giáo viên thấp chỉ đáp ứng được 60-70% nhu cầu cuộc sống, đặc biệt là ở các thành phố lớn với mức chi tiêu đắt đỏ thì cuộc sống của người giáo viên thậm chí còn gặp nhiều khó khăn. Khi đồng lương không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, liệu những “kỹ sư tâm hồn” có còn vững tâm khi chèo lái con thuyền trí thức? Đó cũng chính là một trong những lý do nảy sinh tình trạng dạy thêm, học thêm, tình trạng “chạy trường, chạy lớp, chạy điểm”… Vì vậy đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải có cơ chế chính sách phù hợp với tính chất nghề nghiệp để các thầy giáo cô giáo thực sự yên tâm và tràn đầy nhiệt huyết khi đứng trên bục giảng.
Đối với việc học, người học phải xác định được mục đích học để làm gì, học như cái gì và học như thế nào. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”(12). Như vậy, quan niệm về học tập của Bác rất toàn diện: Học tập tri thức đi đôi với rèn luyện đạo đức cách mạng; học tập nhằm hoàn thiện đạo làm người, nâng cao trình độ và năng lực hoàn thành nhiệm vụ; học để phục vụ lợi ích của Đảng, nhân dân, Tổ quốc và cả nhân loại. Bác cũng luôn lưu ý học sinh, sinh viên rằng, để việc học tập thành công và trở nên hữu ích thì học phải đi đôi với hành, lý thuyết phải đi cùng thực tiễn. Người chỉ rõ: “Chỉ biết lý luận (lý thuyết) mà không biết thực hành thì cũng là trí thức có một nửa. Vì vậy cho nên các cháu trong lúc học về lý luận thì cũng phải kết hợp với thực hành”, “lý luận phải gắn liền với thực tế(13). Đặc biệt khi đổi mới cách dạy lấy người học làm trung tâm thì người học phải chủ động, linh hoạt để có thể lĩnh hội được kiến thức từ bài giảng của thầy cô. Trình độ, khả năng của học sinh, sinh viên Việt Nam vốn không hề thua kém các nước trên thế giới. Bằng chứng đó là hàng năm chúng ta cử đội tuyển tham gia các kỳ thi Olympic thế giới về Toán học, Vật lý, Hóa học, Sinh học… đều đạt giải cao. Theo đánh giá của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) được công bố năm 2015 về kết quả đánh giá học sinh quốc tế (PISA) thì Việt Nam xếp thứ 8 về điểm trung bình các môn khoa học trên tổng số 165 quốc gia.
Sách giáo khoa được coi là phương tiện, cầu nối giữa thầy và trò xoay quanh hoạt động dạy và học. Từ sau Đại hội đổi mới (1986) đến nay, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã nhiều lần tiến hành cải cách, bổ sung, chỉnh lý sách giáo khoa để phù hợp với yêu cầu mục tiêu giáo dục đề ra. Tuy nhiên nội dung sách giáo khoa hiện nay vẫn là vấn đề gây tranh cãi trong các cuộc họp, hội nghị bàn về giáo dục, làm dấy lên sự quan ngại đối xã hội khi đánh giá về chất lượng giáo dục. Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất đề cao và đưa lên hàng đầu nhiệm vụ cải cách sách giáo khoa trong công tác giáo dục. Người nhấn mạnh: “Phải sửa đổi triệt để chương trình giáo dục cho hợp với sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc”(14). Trải qua nhiều lần cải cách, chỉnh lý, bổ sung nhưng Bộ Giáo dục - Đào tạo chưa đưa ra được một bộ sách giáo khoa thật sự chất lượng cho các cấp học, ngành học. Chưa kể đến việc xuất bản tràn lan các loại sách tham khảo không đảm bảo về mặt kiến thức khiến cả thầy và trò như rơi vào mê trận khi đi tìm những cuốn sách để dạy và học...
Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân trong công cuộc xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa hiện nay, là công việc “trăm năm trồng người”, vì thế chúng ta cần xác định tính chất lâu dài, khó khăn, phải có sự quyết tâm thống nhất từ trên xuống dưới, giữa các cấp, bộ ban ngành và toàn xã hội chứ không chỉ riêng ngành giáo dục đào tạo. Đúng như nhận định của Tổng thư ký Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD Angel Gurria: “…Giới trẻ là tương lai, do đó, mỗi quốc gia phải làm tất cả mọi thứ có thể để cải thiện hệ thống giáo dục và triển vọng của các thế hệ tương lai"(15). Vậy nên muốn đưa sự nghiệp đổi mới giáo dục thành công cần phải có sự đoàn kết nhất trí của toàn dân, dưới sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và Chính phủ, mỗi người dân phải ý thức được trách nhiệm của mình trong sự nghiệp xây dựng đất nước nói chung và sự nghiệp giáo dục nói riêng. Mỗi cán bộ ngành giáo dục, mỗi người thầy, người cô cần nhìn thẳng vào hiện thực, tích cực tự phê bình và phê bình để nhìn nhận những việc làm được và chưa làm được từ đó phát huy những thành tựu, khắc phục những mặt hạn chế, thiếu sót một cách nhanh chóng, kịp thời, luôn khắc cốt ghi tâm lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy:“dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải tiếp tục Thi đua dạy tốt, học tốt”(16)  thì sự nghiệp giáo dục ắt sẽ đi đến thắng lợi.
 
Chú thích:
(1) (10) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, tập 4, 2011, tr40.
(2) (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia,  tập 10, tr. 190 – 191)
(3) (14) (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia,  tập 8, tr. 80
(4) (Trích nghị quyết của Đảng)
(5) (6) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, tập 5, 2011, tr40.
(7) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia,  tập 10, tr. 190 – 191. 
(8) “Bác Hồ với chiến sỹ”,Nxb Quân đội Nhân dân, H.1994
(9) Hồ Chí Minh, toàn tập, t.11, Nxb CTQG, H, 2000, tr.329; tr.350
(11) Tạp chí văn nghệ Quân đội, số tháng 11/2013.
(12) (13) Báo Nhân dân, số 610, ngày 3/11/1955http://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/hoc-sinh-viet-nam-vuot-my-ve-toan-va-khoa-hoc-810728.htm
(16)  Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H.2011, Tập 14, tr.603.