"Làm tốt nông nghiệp như Trung Quốc"

Kỷ niệm 60 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự Đại hội chiến sĩ thi đua nông nghiệp toàn quốc lần thứ III (23/5/1958) và Triển lãm Nông khẩn Trung Quốc (06/12/1958):
 
Ths. Phan Thị Hoài
Phòng TTGD
Nhận thức hoàn cảnh Việt Nam vốn là nước thuộc địa lạc hậu, khoảng 90% dân số là nông dân, cho nên nông nghiệp phải là mặt trận hàng đầu, nông nghiệp có một vị trí quan trọng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân cũng như trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh”(1). Từ tư tưởng đó, trong suốt cuộc đời mình, Bác luôn dành sự quan tâm cho nông dân, cho nông nghiệp. Người rất coi trọng kinh nghiệm phát triển sản xuất nông nghiệp của Liên xô và Trung Quốc, đặc biệt là của Trung Quốc. Năm 1958, Người đã đón tiếp đoàn Anh hùng lao động mặt trận nông nghiệp Trung Quốc và đoàn triển lãm Nông khẩn Trung Quốc, đánh giá rất cao kinh nghiệm phát triển sản xuất nông nghiệp của Trung Quốc. Người cho rằng, Việt Nam phải làm tốt nông nghiệp như Trung Quốc vậy.
Năm 1949 tổng sản lượng  lương  thực Trung Quốc chỉ đạt 113 triệu tấn. Bước  vào  kế  hoạch 5 năm (1953-1957),  Trung  Quốc  tiến  hành công cuộc cải tạo xã hộichủ nghĩa trên  quy  mô  lớn, từ  thành  thị  tới  nông  thôn. Công cuộc cải tạo diễn  ravới tốc độ nhanh và cơ bản. Phong trào cải tiến kĩ thuật và xây dựng các công trình thuỷ lợi đã  góp  phần  thúc đẩy nông nghiệp  phát triển. Nhịp độ tăng hàng năm của nông nghiệp  đạt 4.5%. Do vậy, tổng sản lượng  lương  thực từ 164 triệu tấn năm 1952 tăng lên 195 triệu tấn năm 1957, tăng 72% so với năm 1949. Cùng lúc đó ở Việt Nam, sau 3 năm khôi phục kinh tế (1955-1957), đến hết năm 1957, nông nghiệp không những hàn gắn xong vết thương chiến tranh mà còn phát triển một bước, vượt mức của năm 1939, năm cao nhất trong thời kỳ Pháp thuộc. Cuối 1957, sản lượng nông nghiệp của Việt Nam đạt 3,9 triệu tấn, nhưng cũng chỉ bằng 5% của Trung Quốc.
Tháng 5 năm 1958, Đại hội chiến sĩ thi đua nông nghiệp toàn quốc lần thứ III được tổ chức. Đánh giá cao kinh nghiệm phát triển sản xuất nông nghiệp của Trung Quốc, chính vì vậy trước khi họp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt yêu cầu Chính phủ Trung Quốc cử một phái đoàn anh hùng lao động nông nghiệp sang thăm Việt Nam và dự đại hội. Chính phủ Trung Quốc quyết định giao cho Quảng Tây tổ chức một phái đoàn sang thăm Việt Nam.
Phái đoàn anh hùng lao động nông nghiệp Trung Quốc do trưởng ty nông nghiệp Quảng Tây dẫn đầu. Đoàn có ba anh hùng lao động mặt trận nông nghiệp Quảng Tây, đó là Mạc Thọ Toàn- chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp xã Mã Lộ, huyện Sầm Khê; Lưu Bảo Thuận- bí thư chi bộ xã Bình Mão, huyện tự trị dân tộc Mèo Đại Miêu Sơn và Lưu Á Bảo- chủ nhiệm hợp tác xã ngư nghiệp Ngoại Sa, thành phố Bắc Hải.
Đại hội khai mạc vào ngày 21 tháng 5. Ngày 23 tháng 5 Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự. Khi thấy phái đoàn anh hùng lao động nông nghiệp Trung Quốc ngồi ở hàng ghế đầu hội trường, Người liền bước tới bắt tay từng thành viên trong đoàn, hỏi han trò chuyện thân mật. Phát biểu tại Đại hội, Người chỉ rõ: “Về mặt sản xuất nông nghiệp, chúng ta phải học tập kinh nghiệm tiên tiến của Trung Quốc, làm tốt nông nghiệp như Trung Quốc vậy, rồi sau đó mở cuộc thi đua với anh em nông dân Trung Quốc, cùng tiến lên con đường thênh thang nông nghiệp xã hội chủ nghĩa”(2).
Nỗi bận tâm lớn nhất và xuyên suốt của Hồ Chí Minh là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Theo Người “chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi, mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”. Muốn giải quyết vấn đề ăn thì phải làm thế nào cho có đầy đủ lương thực. Mà lương thực là do nông nghiệp sản xuất ra. Vì vậy, phát triển nông nghiệp là cực kỳ quan trọng. Trong bài nói chuyện Bác giới thiệu tình hình làm công trình thủy lợi của nông dân tỉnh Hà Nam, Trung Quốc: “Từ tháng 10 năm ngoái đến tháng 9 năm nay, Trung Quốc dự định phát triển thuỷ nông cho 6 triệu mẫu tây mà mới đến tháng 3 năm 1958, đã làm được 18 triệu mẫu tây. Tỉnh Hà Nam có đến 87 phần trăm đất núi, ít sông, ít mưa, luôn luôn bị hạn hán mất mùa. Trước ngày giải phóng, đến mùa hè nhân dân ăn cả vỏ cây, rễ cỏ, chết đói hàng vạn, cho nên có câu ca dao:
Núi trọc như đầu bình vôi
Sông không có nước, nước hiếm hoi như vàng,
Hàng năm hạn hán tai hoang
Người người đói rách, làng làng xác xơ.
Hà Nam lại có nhiều khó khăn: thiếu sức người, thiếu kinh nghiệm, thiếu lương ăn. Nhân dân quen chờ trời Phật. Lại còn khó khăn phải đưa nước ngược lên núi.
Đề ra kế hoạch biến đổi tình hình đói khổ này, các cấp bộ Đảng từ tỉnh đến xã đã ra sức tuyên truyền giáo dục nhân dân tin tưởng sức người thắng được trời. Các cán bộ triệt để tin tưởng vào trí khôn và lực lượng của nông dân. Các cấp lãnh đạo lại thường xuyên điều tra nghiên cứu, đúc kết và phổ biến kinh nghiệm. Nhân dân khi đã hiểu rõ và được tổ chức lại, đều ra sức thi đua thực hiện vượt mức kế hoạch”(3).
Bên cạnh giới thiệu một số kỹ thuật tiên tiến trong việc bón phân của nông dân một số nơi ở Trung Quốc, Người còn giới thiệu tình hình công nhân nông trường quốc doanh Trung Quốc đã quyết không xin thêm tiền và vỡ hoang từ 5 triệu đến 6 triệu rưởi mẫu tây, trong khi kế hoạch của Chính phủ là 2 triệu rưỡi mẫu tây. Anh em nông binh đi vỡ vùng đại sa mạc toàn cát sỏi, đã lập được 44 nông trường trồng trọt, 16 khu chăn nuôi và 99 công xưởng. Đặc biệt tại đây Người nhấn mạnh tình hình quân nhân giải phóng quân sau khi giải ngũ tham gia sản xuất nông nghiệp: “Nông dân, quân nhân giải ngũ và binh đoàn xây dựng sản xuất của Trung Quốc đều cố gắng vì nước nhà mà nâng cao sản lượng nông nghiệp. Họ làm cho ruộng xấu trở thành ruộng tốt, cải tạo sa mạc thành đồng ruộng màu mỡ, biến vùng đất hoang vu ở Đông Bắc Trung Quốc trở thành vựa thóc”(4). Tiếp đó Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi toàn thể các đại biểu: “Các cô, các chú có làm được như bên Trung Quốc không?”. Cả hội trường đồng thanh trả lời: “Thưa Bác, được ạ!”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định quyết tâm: “Hễ ta cố gắng làm thì nhất định sẽ làm được”. Nói đến đây, Người hướng về phía các đại biểu Trung Quốc, Bác nói: “Các đồng chí Trung Quốc cũng có mặt ở đây, các đồng chí cũng đã nghe thấy rồi. Nếu chúng ta quyết tâm làm cho bằng được, thì nhất định phải cố gắng thực hiện lời hứa này”(5).
Ngày 26 tháng 5, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp phái đoàn anh hùng lao động nông nghiệp Trung Quốc tại Phủ Chủ tịch. Người ân cần hỏi thăm tình hình sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp tại các địa phương của từng đại biểu. Trong khi các đại biểu báo cáo Người vừa nghe vừa gật đầu khen phải. Cuối cùng Người mong muốn: “Cách làm và kinh nghiệm phát triển sản xuất nông nghiệp của các đồng chí rất tốt. Nông nghiệp Việt Nam có thể học tập và phổ biến rộng rãi kinh nghiệm của các đồng chí. Tôi mong nông dân hai nước Việt – Trung sẽ nắm tay nhau cùng tiến vọt”.
Ngày 7/12/1958, triển lãm Nông khẩn Trung Quốc khai mạc tại Hà Nội. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc tổ chức triển lãm nông nghiệp ở nước ngoài sau ngày giải phóng.Chiều ngày 8 tháng 12, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến tham quan triển lãm. Suốt gần 2 tiếng đồng hồ, Người tham quan tất cả các gian hàng trưng bày, xem tỉ mỉ các loại sản phẩm, hỏi thăm về cách dùng và hiệu quả của một vài sản phẩm và Người đặc biệt chú ý đến những sáng kiến, kinh nghiệm của nông dân Trung Quốc trong phong trào tiến vọt. Xem xong Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đề vào quyển sổ vàng của triển lãm một bài thơ chữ Hán:
全民搞跃进
满地插红旗
农业共产化
就是太平时。
Tạm dịch là:
Toàn dân cùng tiến vọt
Khắp nơi cờ hồng bay
Nông nghiệp cộng sản hóa
Thái bình đã tới ngày!(6)
Ngày 8/01/1959, triển lãm Nông khẩn Trung Quốc bế mạc. Theo chỉ thị của Chính phủ Trung Quốc, đoàn tặng tất cả đồ vật triển lãm cho Chính phủ Việt Nam. Chiều hôm đó lễ trao tặng được cử hành, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và đích thân trao tặng cho đoàn Huân chương Lao động hạng nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhờ sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau khi triển lãm bế mạc cả đoàn đã đi thăm Nghệ An, quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh và một vài nơi khác.
Sáng ngày 12 tháng 1, trước khi đoàn lên đường về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đoàn tại Phủ Chủ tịch. Mọi người báo cáo với Bác kết quả tốt đẹp của cuộc triển lãm kỳ này và bày tỏ niềm vui trong chuyến đi thăm quê hương của Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân cần hỏi thăm sức khỏe các thành viên trong đoàn và tỏ ý vui mừng vì những đóng góp bổ ích về kinh nghiệm sản xuất mà đoàn đã phổ biến trong dịp triển lãm tại Việt Nam. Khẳng định thành tích công tác của đoàn Người nói: “Cuộc triển lãm kỳ này rất bổ ích cho nhân dân Việt Nam, đoàn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Nhân dân Việt Nam cảm ơn các đồng chí”.
Trước khi chúc tất cả các thành viên trong đoàn lên đường về nước bình an, Người còn nhấn mạnh rằng: “Nhân dân Việt Nam rất mong muốn được học tập những kinh nghiệm tiên tiến về mặt sản xuất nông nghiệp của nhân dân Trung Quốc, Chính quyền các cấp đều quyết tâm làm tốt sản xuất nông nghiệp như Trung Quốc vậy”.
Sau đó, Trung Quốc đã cử rất nhiều chuyên gia giỏi sang giúp đỡ Việt Nam phát triển nông nghiệp và đặc biệt nhiều cán bộ nông nghiệp đã được Bác Hồ cử sang Trung Quốc học. Học không ngồi ở trường, không ngồi ở lớp mà học trực tiếp của dân, cùng làm cùng ở với dân nước bạn. Nhờ vậy mà sản lượng nông nghiệpViệt Nam từ 3,9 triệu tấn năm 1957 tăng lên 5,19 triệu tấn năm 1959. Đầu năm 1965 đã xây dựng được 3.139 điểm cơ khí nhỏ, 7 trạm và 32 đội máy kéo, 33 công trình thủy lợi lớn, 1.500 công trình vừa và nhỏ được khôi phục và xây dựng, bảo đảm tưới tiêu chủ động cho hơn 500.000 ha diện tích trồng trọt. Nông nghiệp miền Bắc từ một nền nông nghiệp lạc hậu, độc canh, năng suất thấp dần dần trở thành một nền nông nghiệp được cơ khí hóa. Năm 1965, miền Bắc chỉ có 7 huyện và 640 hợp tác xã đạt mức sản lượng 5 tấn/ha/năm thì đến năm 1967 tăng lên 30 huyện và 2.628 hợp tác xã đạt đến mức sản lượng trên. Tỉnh Thái Bình, huyện Thanh Trì (Hà Nội), huyện Đan Phượng (Hà Tây) trở thành "quê hương 5 tấn" đầu tiên.
Thực hiện đường lối Đổi mới của Đảng, Nông nghiệp Việt Nam liên tục giành được những thành tựu to lớn và toàn diện, góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Sau thời kỳ thiếu lương thực kéo dài, từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, hằng năm phải nhập khẩu hàng triệu tấn lương thực thực phẩm, đến nay, Việt Nam không những đáp ứng nhu cầu về lương thực thực phẩm cho toàn thể nhân dân mà còn trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới. Sự phát triển của nông nghiệp và nông thôn đã góp phần quan trọng vào thành công của công cuộc xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của nông dân, làm cơ sở ổn định và phát triển kinh tế - xã hội trong nước. Những thành tựu này cũng góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Với nền tảng là những thành tựu to lớn, ta hoàn toàn tin tưởng ngành Nông nghiệp Việt Nam sẽ có bước đột phá mới, đóng góp xứng đáng vào việc thực hiện ước nguyện của Bác để “xây dựng nước ta ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.
 
Chú thích:
 (1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB CTQG, H.2011, tập IV, tr.246
(2) Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Hoàng Tranh NXB Giải phóng quân, Bắc Kinh, tiếng Trung, 1987,  trang 189.
(3) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, xuất bản lần thứ 3, 2011, tập 11 trang 414-415
(4) Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Hoàng Tranh NXB Giải phóng quân, Bắc Kinh, tiếng Trung, 1987,  trang 189.
(5) Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Hoàng Tranh NXB Giải phóng quân, Bắc Kinh, tiếng Trung, 1987,  trang 189.
(5) Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, NXBQGHN, 2009, tập 7, trang 182-183