Những thuận lợi, khó khăn trong công tác bảo tồn, phát huy di tích Nhà sàn Bác Hồ tại Khu di tích Phủ Chủ tịch

Nguyễn Thị Thu Thủy
Phòng BQDT
60 năm đã trôi qua, ngôi Nhà Sàn Bác Hồ trong Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch vẫn được bảo quản, lưu giữ nguyên trạng như những ngày cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh sống và làm việc. Ngay từ thời điểm Bác đi xa (1969), công tác bảo vệ, bảo quản các di tích, các tài liệu hiện vật tại nơi Bác sống và làm việc lúc sinh thời luôn được xác định là khâu công tác quan trọng trong hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị. Từ đó đến nay công tác này lại càng được thực hiện tốt hơn cùng với những phương tiện khoa học kỹ thuật để gìn giữ di tích được lâu dài.
Khu di tích đã không ngừng đổi mới phương thức và nâng cao chất lượng để giữ gìn lâu dài, nguyên trạng tài liệu hiện vật, di tích và cảnh quan môi trường. Thực tế 49 năm qua, công tác bảo tồn di sản nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được các thế hệ lãnh đạo Khu di tích chỉ đạo trên quan điểm “phòng ngừa là chính”, hay nói theo cách thông thường của dân gian là "phòng bệnh hơn chữa bệnh". Trong tình hình thực tế của Khu di tích cần phải kết hợp cả "phòng" và "chữa".  Biện pháp bảo quản phòng ngừa là biện pháp thích hợp trong công tác bảo quản vì vừa tiết kiệm được kinh phí vừa gìn giữ lâu dài tài liệu, hiện vật và di tích, nhưng cũng đòi hỏi phải giải quyết những vấn đề kỹ thuật rất phức tạp.
Ở Nhà Sàn, trong thời gian đầu mở cửa đón khách tham quan, khách được lên trực tiếp tầng 2 nhưng theo thời gian lượng khách ngày một đông khiến ban quản lý di tích đã có giải pháp là làm thêm một cầu thang sắt phía sau song song với Nhà Sàn để phục vụ cho khách đi bên ngoài mà vẫn quan sát được tầng 2 Nhà sàn. Ngày 15/2/1977 cầu thang đã được xây dựng bằng vật liệu thép đảm bảo được tải trọng và có sức chứa lớn hơn. Nhờ đó, 41 năm qua, dù lượng khách mỗi ngày quá đông, mật độ quá dày, tần suất quá nhiều trong thời gian dài nhưng di tích Nhà Sàn không bị chấn động và không bị ảnh hưởng đến kết cấu, độ bền vững của di tích. Nhưng thực tế hiện nay với lượng khách tham quan có cả khách nước ngoài thì bề ngang và bước bậc thang nhỏ, hẹp chưa thực sự phù hợp với tiêu chuẩn cầu thang phục vụ công cộng.
Trước đây Khu di tích mở, đóng cửa đón khách theo giờ đón tiếp đồng bào viếng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhưng để ngày càng phục vụ được đông đảo khách từ mọi nơi về với Bác trong mọi thời điểm, mọi thời gian, Khu di tích đã mở cửa đón khách cả sáng thứ 7 và Chủ nhật (mặc dù quy định của Nhà nước từ ngày 01/10/1999 tuần làm việc 40h được nghỉ 2 ngày thứ 7 và ngày Chủ nhật) và sắp xếp thời gian bảo quản di tích sau khi không đón khách. Từ tháng 10/2000  mở thêm thời gian đón khách vào sáng thứ 2 và sáng thứ 6 trong tuần. Từ 1/1/2016 mở thêm chiều thứ 6, nghỉ đón khách chiều thứ 2. Như vậy thời gian mở cửa đón khách liên tục 13/14 buổi /7 ngày rất khó khăn cho công tác bảo quản và tu bổ nhưng cũng cho thấy sự nỗ lực giữa công tác bảo tồn và phát huy tác dụng. Qua con số khách tham quan Khu di tích ngày càng tăng đã minh chứng rõ điều này:
Năm 2010: 2.200.323lượt khách ;
Năm 2011: 2.116.044 lượt khách; 
Năm 2012: 2.382.141 lượt khách;
Năm 2013: 2.313.980 lượt khách;
Năm 2014: 2.248.857 lượt khách; 
Năm 2015: 2.361.270 lượt khách ; 
Năm 2016: 2.731.679 lượt khách.
Năm 2017, Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch đã đón tiếp hơn 2,698 triệu lượt khách đến tham quan và 116 đoàn khách cấp cao.
Khu di tích đã thường xuyên nghiên cứu điều chỉnh, giải quyết hài hoà, hợp lý từ những giải pháp, kinh nghiệm có giá trị thực tiễn cao là kết quả của các buổi tọa đàm, những đề tài nghiên cứu khoa học có tính chuyên môn sâu như tọa đàm: “50 năm giữ gìn và phát huy tác dụng Nhà sàn Bác Hồ”; Hội thảo khoa học “Đánh giá hiện trạng các di tích và tài liệu hiện vật trưng bày tại Khu di tích phủ Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch”; đề tài “Nghiên cứu, đánh giá việc ứng dụng công nghệ khí khô trong công tác bảo quản tài liệu, hiện vật tại Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch”... hội thảo “60 năm Nhà sàn Bác Hồ trong Khu di tích Phủ Chủ tịch”...
Thực tế, hiện vật được trưng bày tại các di tích hoàn toàn là những kho mở cho nên vấn đề bảo quản hiện vật đặt ra là phải làm như thế nào để có thể kéo dài tuổi thọ của chúng. Một số các di tích bất động sản khác trong Khu di tích đã từng bước đ­ược đầu tư trang thiết bị bảo quản cần thiết như: máy đo độ ẩm, nhiệt kế, máy hút ẩm, máy điều hòa nhiệt độ, máy phun ẩm, công nghệ khí khô, đèn chiếu sáng…để bảo vệ tài liệu, hiện vật. Nhưng riêng di tích Nhà sàn (gỗ) chưa đưa được các thiết bị khoa học kỹ thuật vào công tác bảo quản. Từ năm 1999 mới chỉ sử dụng khung nhôm kính ốp bên ngoài để bảo vệ giá sách tầng 2 nhà Sàn (sau này thay thế bằng khung gỗ), và đặt chụp mica bảo vệ hiện vật khỏi bị bụi bẩn, bạc màu, ẩm mốc. Nhờ đó có thể kiểm soát và hạn chế được phần nào mức độ hư hại với tài liệu hiện vật. Tuy nhiên, di tích Nhà sàn gỗ không lắp đặt được thiết bị kỹ thuật bảo quản nên chưa cung cấp được nguồn ánh sáng phù hợp đạt được hiệu quả chiếu sáng mà vẫn đảm bảo không phá vỡ kiến trúc ban đầu.
Về bể cá vàng được Bác Hồ nuôi khi xưa nhằm phục vụ cho các cháu thiếu nhi vào thăm Người, bể nuôi cá rất đơn sơ. Nhưng từ năm 1991 do thời tiết, do các mùa hoa rụng, giống cá được sống trong khí sục... đã làm cho chúng không thể sống trong môi trường sống tự nhiên bình thường được nữa. Do vậy một giải pháp là chiếc sục điện đã xuất hiện. Việc dùng sục điện đã giữ được cá nhưng làm hiện vật mất đi tính nguyên trạng lúc sinh thời Bác.
Về vấn đề diệt mối, hàng năm đã được tiến hành nhưng vấn đề này gặp không ít khó khăn, bởi diệt mối thì phải diệt trên diện rộng nên cần nguồn kinh phí cũng như chuyên gia lành nghề, trong khi đó kinh phí được duyệt hàng năm của cơ quan có hạn.  Để ngăn ngừa mối mọt, khi tu bổ đã xử lý mối xuống nền nhà và chân cột, đây cũng là cách bảo quản phòng ngừa truyền thống. Nhưng từ 10/2001 chân cột gỗ tầng 1 Nhà Sàn đã bắt đầu có hiện tượng mối.
Từ thực tế công tác bảo quản, theo chúng tôi, khi bảo quản, tu bổ luôn phải tuân theo những nguyên tắc: Trân trọng và giữ gìn tính nguyên gốc của di tích; ưu tiên sử dụng vật liệu truyền thống và phương pháp truyền thống; Cần bảo đảm giữ gìn hình dáng, màu sắc ban đầu của hiện vật phù hợp với hiện trạng tu bổ; Phải thực hiện trên cơ sở điều tra khoa học kỹ lưỡng. Chỉ tu bổ di tích như nó vốn có, hỏng bộ phận nào tu bổ phần đó, không thêm bớt và phải luôn chú ý tới khía cạnh thẩm mỹ gốc. Trong điều kiện hiện nay thì việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản đúng cách còn gặp nhiều khó khăn phức tạp. Đặc biệt do điều kiện kinh tế - xã hội, kinh phí đầu tư cho bảo tồn di sản, nhận thức của cộng đồng về hiệu quả từ việc bảo tồn di sản, và việc đào tạo về chuyên ngành bảo tồn di sản tại Việt Nam chưa thực sự tương xứng với giá trị hiện hữu mà chúng ta đang có. Tất nhiên, kinh phí là một yếu tố quan trọng nhưng không phải là tất cả, vì ngoài kinh phí, còn nhiều yếu tố khác, trong đó không thể không kể đến trình độ, tư duy của người làm công tác bảo tồn để phù hợp với cuộc cách mạng 4.0.
Di tích Nhà sàn là điểm di tích quan trọng tạo nên giá trị và sức hấp dẫn đặc biệt của Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nơi sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến sự nghiệp bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc, Người cho rằng di sản văn hóa dân tộc là vốn quý, là bệ đỡ cho nền văn hóa một đất nước. 49 năm đã trôi qua, với biết bao biến thiên của tự nhiên và xã hội, cùng nhiều sự kiện chính trị, văn hoá quan trọng của đất nước diễn ra nhưng các thế hệ nối tiếp nhau của Khu di tích vẫn trăn trở, nghiên cứu đưa ra giải pháp gìn giữ bảo quản tối ưu nhất, thuận lợi và phù hợp cho công tác bảo quản hiện vật như hiện nay. Luôn đặt lên trên hết việc giải quyết hài hoà, hợp lý mối quan hệ giữa nhiệm vụ bảo tồn, với phát huy giá trị di tích phục vụ khách tham quan với hơn 70 triệu lượt khách tham quan trong 49 năm qua.