Chủ tịch Hồ Chí Minh với Thủ đô Hà Nội những ngày đầu toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp

ThS. Cao Thị Hải Yến
PGD Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
 
BBT: Năm 1945, sau khi chúng ta vừa giành độc lập, thực dân Pháp đã lăm le phát động cuộc chiến tranh nhằm thủ tiêu Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa non trẻ. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ đô Hà Nội cùng cả nước đã đoàn kết đồng lòng kháng chiến cứu nước.
Từ khóa: Hà Nội, kháng chiến, Hồ Chí Minh
 
Trước tình thế nguy nan “ngàn cân treo sợi tóc”, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ Hà Nội đã đoàn kết toàn thể nhân dân Thủ đô thực hiện kháng chiến kiến quốc, chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, đánh bại mọi âm mưu của đế quốc Anh-Pháp-Mỹ-Tưởng và bọn tay sai phản động, bảo vệ chế độ mới, giữ vững an ninh trật tự Thủ đô. Trong những ngày tháng cam go này, vơi chủ trương “hòa để tiến”, ta đa ký với Pháp Hiệp định sơ bộ 06/3/1946, Tạm ước 14/9/1946 để tranh thủ thời gian tiếp tục xây dựng lực lượng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến toàn quốc chắc chắn sẽ xảy ra.
 
Trước tình hình mới, yêu cầu mới của cách mạng, Đảng bộ Hà Nội đã tăng cường củng cố hệ thống Đảng, chính quyền Mặt trận dân tộc thống nhất từ thành phố đến các khu phố, làng xã; phát triển sâu rộng lực lượng chính trị, củng cố kiện toàn lực lượng vũ trang thủ đô gồm ba thứ quân (Vệ quốc đoàn, Tự vệ chiến đấu thành Hoàng Diệu, tự vệ rộng rãi ở các nhà máy, xí nghiệp, khu phố, làng xã). Từ sau Hội nghị quân sự toàn quốc của Đảng (ngay 19/10/1946), Thủ đô Hà Nội chuẩn bị kháng chiến. Tháng 11/1946, Trung ương Đảng chia cả nước thành 12 chiến khu, Hà Nội là chiến khu XI. Cả thành phố trở thành trận địa. Các lực lượng vũ trang thủ đô (5 tiểu đoàn Vệ quốc đoàn và 9.000 tự vệ) với vũ khí thô sơ được giao trọng trách giam chân và tiêu hao địch trong thành phố một thời gian, tạo điều kiện cho Đảng và Chính phủ rút lên Việt Bắc an toàn. Ủy ban bảo vệ Hà Nội được đổi tên thành Ủy ban kháng chiến Hà Nội để chỉ huy kháng chiến ở Thủ đô.

Về phía Pháp, sau khi bội ước đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn, ở Hà Nội, chúng trắng trợn khiêu khích ta nhiều hơn. Trong buổi họp Thường vụ Trung ương Đảng đề ra nghị quyết cả nước chuẩn bị nhất tề đứng lên chiến đấu chống quân xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Trong khi hết sức tích cực, khẩn trương chuẩn bị kháng chiến, tuyệt đối không sa vào âm mưu khiêu khích để địch lợi dụng đánh ta sớm. Ở thành thị, biến mỗi đường phố thành một chiến hào. Ở nông thôn, mỗi làng thành một pháo đài. Kháng chiến của ta sẽ là toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, trường kỳ kháng chiến”. Kẻ thù theo dõi sát sao những hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thậm chí còn bố trí súng máy chĩa vào cửa sổ Bắc Bộ phủ, nơi Người thường làm việc. Sau khi nắm được tin mật của địch chuẩn bị cho quân đóng ở các địa phương lập thành những đội biệt kích gọn nhẹ, giả trang sẵn sàng bắt cóc và thủ tiêu cán bộ cốt cán của ta, Thường vụ Trung ương Đảng giao cho các đồng chí Nguyễn Lương Bằng và Trần Đăng Ninh bảo vệ đưa Bác lánh ra ngoại thành. “7h30 tối thứ ba, ngày 26/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh bí mật rời Hà Nội. Chiếc xe Ford cũ, mui vải, chạy chầm chậm qua Hàng Gai, Hàng Bông, Ngã Tư Sở rồi đi thẳng vào Hà Đông. Trăng sáng, gió lành lạnh… Trong xe tối mờ mờ. Từ lúc lên xe, Bác im lặng, không nói gì, Bác Hồ đang suy nghĩ… Qua cầu xi măng, xe rẽ ngoặt về hướng Sơn Tây, qua Đại Mỗ đến Canh. Bác xuống xe, áo the, khăn xếp như cụ Lý về quê”(1). Đây là ngôi nhà của bà Tống Minh Phương, một cơ sở cách mạng của ta ở Côn Minh đã mua lúc về nước. Khu biệt thự này gồm 5 gian nhà ngói có vườn, tường bao bọc xung quanh và đặc biệt có một chiếc ao to trước cửa trồng nhiều liễu nên mọi người gọi đây là biệt thự Cây Liễu. Chỉ khi nào cần thiết Bác mới vào thành phố.

Ngày 29/11, Đảng ra lời kêu gọi: “Hỡi toàn quốc đồng bào! Những hành động của Pháp xâm phạm chủ quyền Việt Nam có thể lan rộng. Tình thế vô cùng nghiêm trọng. Hãy sẵn sàng chiến đấu để tự vệ bất cứ nơi nào và chỗ nào”. Ngày 2/12, quân Pháp từ các nơi được điều về Hà Nội nhiều hơn, chúng lập ổ chiến đấu ở các nhà Pháp kiều. Báo chí Pháp ở Hà Nội cũng công khai nói xấu Chính phủ ta, xuyên tạc các sự kiện. Bọn Tây mũ đỏ kéo đến phá phách nhà thông tin Tràng Tiền. Ba đêm liền, xe lính Pháp đi rải truyền đơn khắp thành phố. Nhân dân Hà Nội được lệnh tản cư về các vùng nông thôn. Ngày 3/12, 6 giờ sáng, Bác rời Canh ra Bắc Bộ phủ, Người làm việc đến 18 giờ thì tiếp Sainteny - đại diện chính trị của Chính phủ Pháp để thỏa thuận một số điều khoản. Thấy Bác xin lỗi phải nằm nói chuyện vì mệt, nét mặt Sainteny lộ rõ sự vui mừng với ý nghĩ sẽ nắm được thế chủ động khi đúng vào thời điểm nước sôi lửa bỏng này, người đứng đầu Chính phủ Việt Nam lại yếu sức khỏe. Đến 19 giờ cùng ngày, đồng chí Trần Đăng Ninh đưa xe đón Bác đi thẳng vào làng Vạn Phúc, thị xã Hà Đông. Người ở trên gác xép hẹp của nhà ông Nguyễn Văn Dương, một cơ sở cách mạng. Hàng ngày vẫn có tin tức và công văn gửi đến đây, mọi việc vẫn được giải quyết một cách kịp thời. Các đồng chí Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp thường đến làm việc với Bác theo quy định mỗi người đến cách nhau ít nhất 5 phút. Trong 16 ngày ở và làm việc tại làng Vạn Phúc, Người đã cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước khẩn trương chuẩn bị cho cuộc kháng chiến toàn quốc. Người cũng viết nhiều văn kiện quan trọng như Chỉ thị toàn dân kháng chiến, Thư gửi Xứ ủy Nam bộ và Lời kêu gọi gửi đồng bào toàn quốc, gửi nhân dân Pháp, nhân sĩ toàn thế giới.

Trong hai ngày 17-18/12/1946, thực dân Pháp liên tiếp có những hành động gây hấn, khiêu khích ở Hà Nội. Máy bay thám thính của Pháp bay trên bầu trời. Chúng phá các ụ chiến đấu của anh em tự vệ và nã súng vào đồng bào, đốt nhà, bắt phụ nữ vào thành. Ngày 18-19/12/1946, tại làng Vạn Phúc, Thường vụ Trung ương họp khẩn cấp, hội nghị đã khẳng định những quan điểm cơ bản về đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và quyết định phát động toàn quốc kháng chiến. Hội nghị thông qua Lời kêu gọi kháng chiến và thống nhất khi trên Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi câu “Đồng bào chú ý! Xin trân trọng mời đồng bào cả nước nghe lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, đó sẽ là hiệu lệnh tổng tấn công toàn quốc. Đến 18 giờ 45, Bác thu xếp tài liệu và cùng bộ phận tiếp cận lúc ấy có 8 người vừa làm bảo vệ kiêm liên lạc, thư ký mà Bác đặt biệt danh là Đội thanh niên tuyên truyền xung phong rời Vạn Phúc đi Xuyên Dương (một làng ven sông Đáy thuộc huyện Thanh Oai), bắt đầu chặng đường kháng chiến trường kỳ vô cùng gian khổ.

Ngày 18/12/1946, địch vẫn bao vây trụ sở công an Hàng Đậu, chúng yêu cầu ta phá các ụ chiến đấu. Chúng còn dùng xe tăng chiếm Nha tài chính, gửi tối hậu thư đòi đến ngày 20/12 sẽ đảm nhận việc giữ gìn trị an Hà Nội. Cũng trong ngày 18/12, Bộ chỉ huy mặt trận Hà Nội ra mệnh lệnh: “Những sự chuẩn bị ráo riết và hành động khiêu khích của thực dân Pháp, ấy là một triệu chứng chúng sắp đánh thực sự. Vì danh dự Tổ quốc và quyền lợi dân tộc, chúng ta quyết không chịu lùi bước”.

Ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Quân dân Hà Nội là những người có vinh dự nổ những phát súng đầu tiên của cuộc kháng chiến toàn quốc. Đúng 20 giờ 3 phút ngày 19/12/1946, pháo đài Láng bắn phát súng báo hiệu toàn thể nhân dân Việt Nam bắt đầu cuộc kháng chiến vệ quốc: “Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”(2). Công nhân nhà máy điện Yên Phụ phá máy. Đèn điện trong thành phố phụt tắt. 22 giờ, mệnh lệnh tác chiến của đồng chí Võ Nguyên Giáp truyền đến các đơn vị tự vệ và các chiến sĩ Vệ quốc đoàn. Đại bác của ta từ pháo đài Láng, Xuân Tảo, Canh tới tấp nã vào trại lính Pháp trong thành Hà Nội. Các lực lượng vệ quốc đoàn, công an, tự vệ đồng loạt tiến công các vị trí của địch. Tự vệ nổ mìn hạ hàng loạt cây to và cột đèn, công nhân lật nghiêng những toa xe điện, xe lửa ở các ngã ba, ngã tư trong nội thành làm chướng ngại vật cản trở địch. Nhân dân phố Hàng Gai, Hàng Bông ném các kiện tơ, bông. Các phố Lò Sũ, Hàng Hòm, Hàng Quạt, Sinh Từ khuân những súc gỗ lớn, các phố Tràng Thi, Hàng Đào, Hàng Mã, Hàng Muối ném các bàn, tủ, giường ghế làm ụ cản đường. Các trục giao thông chính trong thành phố bị chia cắt làm nhiều đoạn. Cả Hà Nội vùng lên anh dũng chiến đấu. Trận Bắc Bộ phủ là trận đánh lớn nhất trong những ngày đầu kháng chiến ở trung tâm thành phố, 45 đồng chí đã anh dũng hy sinh, nêu gương sáng cho quân dân Thủ đô noi theo. Vấp phải sự chiến đấu anh dũng của quân dân Hà Nội, kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của địch bước đầu bị phá sản, chúng buộc phải tập trung lực lượng tấn công ta ở nội thành.

Ngày 22/12/1946, địch đánh phố Hàng Da, chợ Hôm, ngày 23/12 đánh Lò Lợn; ngày 24/12 đánh Hàng Bông, ngày 25/12 đánh Đại Cồ Việt, ngày 26/12 đánh Ô Cầu Dền, ngày 27/12 đánh Đông Kinh nghĩa thục ở số 4 Hàng Đào… Trước tình hình đó, Khu ủy khu XI đã lãnh đạo các tổ chức Đảng ủy Liên khu phố tổ chức chỉ đạo quân dân chặn đánh địch với quyết tâm “Mỗi người dân là một chiến sĩ”, “Mỗi nhà là một pháo đài”, “Mỗi phố là một chiến lũy”, các chiến sĩ cảm tử quân đã viết lên tường, lên chiến lũy những khẩu hiệu “Sống chết với Thủ đô”, “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, “Hà Nội - Xtalingrat của Việt Nam”…

Tính đến ngày 29/12/1946 đã diễn ra 47 trận đánh quyết liệt tại Hà Nội, trong đó có các trận tập kích vào Hàng Đậu (ngày 22/12), nhà phái bộ Anh (ngày 23/12), nhà Diên (ngày 24/12), phố Khâm Thiên (ngày 28/12). Nhân dân Thủ đô hưởng ứng Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều trở thành tự vệ chiến đấu, phát huy nhiều sáng kiến diệt giặc. Ở bất cứ nơi đâu, quân Pháp cũng vấp phải sức chiến đấu quyết liệt của quân dân Hà Nội. Ở Xuyên Dương, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí trong Trung ương đã giải quyết nhiều công việc quan trọng của những ngày đầu kháng chiến. Qua sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam, qua các báo và bằng con đường ngoại giao, Người đã nhiều lần gửi thư cho Chính phủ, Quốc hội và nhân dân Pháp, cho các quan chức cấp cao của Pháp như Thủ tướng Lêông Blum, Bộ trưởng Hải ngoại Mutê, tướng Lơcơléc. Người cũng gửi thư cho các tù binh Pháp, cho các nhà báo và nhân dân thế giới giải thích về mục đích, tính chất cuộc chiến tranh của nhân dân Việt Nam. Người quan tâm thăm hỏi, động viên các chiến sĩ bị thương và khen ngợi đội ngũ y bác sĩ tận tình cứu chữa thương bệnh binh. Người gửi thư cho đồng bào, chiến sĩ cả nước động viên tham gia kháng chiến, tăng gia sản xuất, làm tốt nhiệm vụ hậu phương…

Từ tối ngày 26/12/1946 đến 1 giờ sáng ngày 27/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp Chính phủ, bàn định nhiều vấn đề của đất nước sau gần 10 ngày kể từ khi kháng chiến bùng nổ. Kết luận phiên họp, Bác cùng các đồng chí nắm tay giơ cao biểu dương ý chí kháng chiến của cả dân tộc. Tối ngày 13/01/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Xuyên Dương về ở tại xóm Lai Cài, thôn Phú Đa, xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất.

Ngày 14/01/1947, Đội quyết tử của Trung đoàn Thủ đô được thành lập và làm lễ tuyên thệ “Quyết tử” tại rạp Tố Như (góc phố Hàng Bạc - Tạ Hiện) trước khi bước vào đợt chiến đấu mới. Từ giữa tháng 01/1947, thực hiện phương châm của Trung ương Đảng “bảo toàn thực lực kháng chiến lâu dài”, Đảng ủy và Ban chỉ huy mặt trận khu XI chủ trương “không đánh trận địa với địch, không thủ hiểm ở chỗ nào lâu” nên sau khi chặn đánh địch quyết liệt, quân ta chủ động rút lui, không để cho địch thực hiện ý đồ tiêu diệt lực lượng của ta ở Thủ đô.

Tối 30 Tết Đinh Hợi, từ xã Cần Kiệm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Phủ Quốc Oai chủ trì phiên họp cuối năm và chúc Tết Hội đồng Chính phủ. Người lưu ý ba vấn đề: tản cư, di cư, động viên nhân dân và tăng gia sản xuất. Sau đó, Người đến Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam đặt tại chùa Trầm, xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ đọc lời chúc mừng năm mới đồng bào, chiến sĩ cả nước. Đây là Tết đầu tiên kể từ khi nước nhà giành độc lập, nhân dân được nghe lời chúc của Người lúc giao thừa.

Ngày 27/01/1947, giữa lúc cuộc chiến đấu của quân dân Thủ đô trên các đường phố Hà Nội đang diễn ra quyết liệt, các chiến sĩ quyết tử nhận được thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi qua vô tuyến điện. Bức thư viết: “Cùng các chiến sĩ yêu quý của Trung đoàn Thủ đô, … Các em là đội cảm tử. Các em quyết tử để cho Tổ quốc quyết sinh. Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, truyền lại cho các em. Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau”(3). Bức thư là tình cảm của Người động viên các chiến sĩ cảm tử quân Thủ đô kiên cường xả thân vì nước. Khu ủy và Ban chỉ huy Mặt trận Hà Nội sau đó đã tổ chức phổ biến thư đến từng chiến hào để củng cố quyết tâm của các chiến sĩ, vượt mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ mà Trung ương Đảng đã giao phó.

Tối ngày 02/02/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thôn Chúc Sơn, xã Ngọc Sơn, huyện Chương Mỹ chủ trì phiên họp Chính phủ. Cuộc họp diễn ra từ 8 giờ tối 02/02/1947 đến 4 giờ sáng ngày 03/02/1947. Hội nghị thảo luận các vấn đề: tài chính, kinh tế, canh nông và tăng gia sản xuất. Gần sáng, Bác ra về, xe đưa Bác đi qua khu vực chùa Trầm thì gặp một xe tải tụt bánh, chắn ngang đường. Người phải xuống xe đi bộ mấy kilomet mới vào nghỉ ở cơ quan Bộ Quốc phòng đóng tại thôn Ngọc Than, xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai. Từ tối ngày 03/02/1947, Người chuyển về ở tại khu chùa Một Mái, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai.

Sáng ngày 14/02/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Trường Chinh quyết định để Trung đoàn Thủ đô rút ra ngoài và căn dặn tổ chức chu đáo, an toàn, bí mật. Người chuyển tới cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn lời khen ngợi “Các chú giam chân địch một tháng là thắng lợi. Đến nay giữ Hà Nội được hai tháng là đại thắng lợi”. Ngày 16/02/1947, Đảng ủy và Ủy ban kháng chiến Hà Nội ra lệnh: “Trung đoàn Thủ đô phải mở đường rút để bảo toàn lực lượng”. Việc chuẩn bị lui quân tuy gấp rút nhưng rất kỹ lưỡng. Kế hoạch được phổ biến đến tất cả để ai nấy đều nắm rõ nhiệm vụ của mình là ra đi để bảo toàn lực lượng và xây dựng ngày về. Đêm ngày 17/02/1947, Trung đoàn Thủ đô chia làm nhiều bộ phận bí mật rút quân, chỉ để lại một bộ phận hoạt động gây rối nghi binh và rút sau cùng. Đến 23 giờ ngày 18/02, tuyệt đại bộ phận Trung đoàn Thủ đô đã sang tới bến Dâu thuộc Xuân Canh để ra vùng tự do. Ngày 19/2/1947, sau hai tháng chiến đấu, Trung đoàn Thủ đô đã tập trung đầy đủ trên vùng tự do của tỉnh Phúc Yên.

Ngược thời gian về trung tuần tháng 11/1946, sau một buổi làm việc của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi đồng chí Võ Nguyên Giáp: Nếu vạn nhất không tránh được chiến tranh thì Hà Nội có thể giữ được bao lâu? Đồng chí Võ Nguyên Giáp trả lời: “Phải cố giữ thì ít nhất là nửa tháng”. Thực tế quân và dân Hà Nội dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên cường giữ vững Thủ đô trong 2 tháng. Từ Thủ đô Hà Nội trở về Tân Trào, xây dựng Thủ đô kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại tiếp tục lãnh đạo toàn dân tộc trường kỳ chống Pháp. Ngọn cờ giải phóng dân tộc, giành lại độc lập tự do, ấm no hạnh phúc cho nhân dân của Người đã quy tụ đồng bào, chiến sĩ cả nước thành một khối đoàn kết, anh dũng chiến đấu cho đến ngày kháng chiến chống Pháp thắng lợi năm 1954.

Kể từ mùa đông năm 1946 kiên cường cầm chân địch cho đến nay, Hà Nội - Thủ đô của niềm tin và hy vọng vẫn đang viết tiếp những trang sử hào hùng của thời đại Hồ Chí Minh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền, nhân dân Thủ đô nhất định sẽ thực hiện được những điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng tin tưởng: “Nhân dân Thủ đô ta có truyền thống cách mạng vẻ vang và lòng nồng nàn yêu nước, tôi chắc rằng đồng bào thủ đô sẽ hăng hái phấn đấu làm cho mọi ngành hoạt động của Thủ đô ngày thêm phát triển, để làm gương mẫu, để dẫn đầu cho nhân dân cả nước ta trong công cuộc củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong khắp nước ta; để xây dựng một đời sống sung sướng, tươi đẹp, thái bình mãi mãi cho con cháu chúng ta”(4).

Ngày 25/4/1976, sau cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa VI thống nhất, Hà Nội được chọn làm Thủ đô của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, chứng minh cho ý chí thống nhất và tinh thần giác ngộ cách mạng của toàn dân. Cùng cả nước, Hà Nội bước vào thời kỳ khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế. Năm 1976, năm mở đầu của thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế trong điều kiện cả nước thống nhất, các ngành kinh tế của Hà Nội có bước phát triển. Với phương hướng phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm kết hợp chặt chẽ phát triển văn hóa - xã hội, xây dựng Hà Nội xứng đáng với vị thế của Thủ đô - trái tim cả nước, sau 43 năm Thành phố đã có sự phát triển toàn diện và đạt nhiều thành tựu quan trọng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng dịch vụ, công nghiệp; đã hình thành rõ nét các yếu tố của kinh tế tri thức. Chất lượng các sản phẩm dịch vụ có sự đa dạng hóa, tập trung vào các dịch vụ phục vụ trực tiếp cho sản xuất và đời sống xã hội. Công nghiệp được sắp xếp lại và có bước phát triển mạnh theo hướng ưu tiên các ngành hàng, nhóm sản phẩm công nghiệp có công nghệ hiện đại, hàm lượng trí tuệ cao, ít gây ô nhiễm môi trường. Kinh tế nông nghiệp, nông thôn chuyển dịch theo hướng đẩy mạnh sản xuất các loại nông sản, hàng hóa có chất lượng và giá trị cao; đã hình thành một số vùng chuyên canh sản xuất tập trung; bước đầu hình thành nền nông nghiệp sạch, áp dụng công nghệ cao và phát triển nông nghiệp sinh thái; chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp được chú trọng. Cùng với phát triển kinh tế, Hà Nội luôn quan tâm phát triển văn hóa- xã hội để xứng đáng vị trí là Trung tâm văn hóa của cả nước. Công tác giáo dục - đào tạo có sự phát triển toàn diện, đã đẩy mạnh xã hội hóa các loại hình giáo dục - đào tạo, trở thành trung tâm đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài của đất nước. Công tác an sinh xã hội được đảm bảo, tích cực quan tâm, chăm lo cho các đối tượng chính sách, đối tượng bảo trợ xã hội...Những thành tựu trên đã tạo ra thế và lực mới cho Thủ đô thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế. Sau 10 năm mở rộng địa giới hành chính (2008-2018), Thủ đô tiếp tục có bước phát triển mạnh mẽ cả về quy mô, diện mạo với những thành tựu to lớn, toàn diện, góp phần quan trọng vào thành tựu chung của cả nước... sự phát triển vượt bậc của Thủ đô đã khẳng định tính đúng đắn, tầm nhìn chiến lược, ý nghĩa lịch sử, thực tiễn lâu dài của chủ trương mở rộng địa giới hành chính đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển Thủ đô. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả tích cực cũng còn hạn chế, tồn tại: quy mô và tốc độ phát triển kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, vị thế của Thủ đô, nhất là tiềm năng, thế mạnh về không gian phát triển và nguồn lực đất đai; chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh còn thấp. Công nghệ và trình độ quản lý sản xuất chậm đổi mới; chất lượng công tác quy hoạch còn hạn chế; xây dựng, quản lý phát triển đô thị chưa đáp ứng được yêu cầu; khoa học và công nghệ chưa phát huy được vai trò là động lực phát triển… Phát huy truyền thống tốt đẹp và những thành tựu đã đạt được, với tầm vóc, thế và lực mới, Đảng bộ, chính quyền và các tầng lớp nhân dân Thủ đô quyết tâm phấn đấu, xây dựng Thủ đô Hà Nội xứng đáng với vị trí trung tâm về kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, giáo dục của cả nước.
 
Tài liệu tham khảo:
1. Vũ Kỳ, Thư ký Bác Hồ kể chuyện, NXB. Chính trị Quốc gia, H. 2005, tr29.
2. Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4, Nxb. Chính trị Quốc gia, H. 1995, tr. 480-481.
3. Sách Lời Hồ Chủ tịch, Nha Thông tin Việt Nam, 1948, t.1, tr.39.