Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh Gia Lai và Kon Tum

I. Giới thiệu khái quát:

Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Gia Lai và Kon Tum là trung tâm chính trị, văn hóa của 2 tỉnh được khánh thành và đưa vào hoạt động nhân kỷ niệm 94 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 - 19-5-1984).

Đây là công trình được hình thành từ sự quyết tâm của lãnh đạo tỉnh và tình cảm, ước nguyện của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói chung và Gia Lai, Kon Tum nói riêng “không được đón Bác vào thăm, thì làm nhà rước Bác vào ở”.

“Đáp ứng nguyện vọng và tình cảm của đồng bào các dân tộc với Bác Hồ”, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra Nghị quyết số 58 ngày 5-2-1981 về xây dựng Nhà trưng bày hình ảnh về cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để đồng bào các dân tộc trong tỉnh đến chiêm ngưỡng và là nơi giáo dục tư tưởng, đạo đức của Người cho các thế hệ mai sau. Sau khi chuẩn bị chọn thiết kế, ngày 1-6-1982, Ban Thường vụ Tỉnh Ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh có thư kêu gọi toàn Đảng bộ, quân dân các dân tộc trong tỉnh đóng góp tiền, vật tư, lao động xây dựng. Trong thời gian ba tháng, cán bộ, chiến sĩ, đồng bào các dân tộc trong tỉnh đã đóng góp 3.726.796 đồng và nhiều vật liệu quý để xây dựng công trình. Tại kỳ họp thứ ba (khóa IV) ngày 10-8-1982, Hội đồng Nhân dân tỉnh ra Nghị quyết về chỉ đạo xây dựng Nhà trưng bày về cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đến ngày 19-5-1984, công trình được khánh thành đưa vào hoạt động phục vụ đồng bào, cán bộ chiến sĩ trong và ngoài tỉnh và khách nước ngoài. Qua thời gian hoạt động, đến ngày 4-6-1988 Bảo tàng Hồ Chí Minh (Hà Nội) ra quyết định công nhận “Nhà trưng bày về cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Gia Lai - Kon Tum  là chi nhánh của Bảo tàng Hồ Chí Minh”.

Năm 1991, tỉnh Gia Lai - Kon Tum chia thành 2 tỉnh Gia Lai, tỉnh Kon Tum, các đồng chí lãnh đạo đã nói: “Nhà Bác là của chung hai tỉnh, không thể chia tách được”. Ngày 2-10-1992 Ủy ban Nhân dân tỉnh Gia Lai Quyết định số 56/UBND đổi tên và bổ sung nhiệm vụ Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Gia Lai và Kon Tum. Để phù hợp với tình hình thực tế, ngày 18-8-1997, Ủy ban Nhân dân tỉnh Gia Lai, quyết định số 934/QĐ-UB về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Gia Lai và Kon Tum. Và đây là Bảo tàng duy nhất trong toàn quốc trực thuộc Ủy ban Nhân dân hai tỉnh.

Trải qua hơn hai mươi năm hoạt động, được sự quan tâm lãnh đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân tỉnh, cùng với sự hướng dẫn về nghiệp vụ của Bảo tàng Hồ Chí Minh Hà Nội hoạt động của Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Gia Lai và Kon Tum ngày càng ổn định và đem lại hiệu quả thiết thực trong việc giới thiệu về sự nghiệp, cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tình cảm nồng hậu, thiết tha của Bác đối với các dân tộc Tây Nguyên và tình cảm thiết tha một lòng, một dạ đi theo Bác Hồ, đi theo Đảng Cộng sản Việt Nam của đồng bào các dân tộc. Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Gia Lai và Kon Tum đã thật sự trở thành trung tâm giáo dục truyền thống cách mạng ở Tây Nguyên nói chung và Gia Lai, Kon Tum nói riêng. Hàng năm đón tiếp trên 50 nghìn khách tham quan trong và ngoài tỉnh cũng như khách nước ngoài. Năm 1995 đã tiến hành nâng cấp chỉnh lý trưng bày.

Nội dung trưng bày Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Gia Lai và Kon Tum được xây dựng trên cơ sở kết quả nghiên cứu khoa học của Bảo tàng Hồ Chí Minh Hà Nội, học tập kinh nghiệm của các bảo tàng lưu niệm danh nhân trong nước, là kết quả học hỏi, nghiên cứu của tập thể Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Gia Lai và Kon Tum, đã được thông qua tại Hội đồng thẩm tra Luận chứng kinh tế kỹ thuật tỉnh Gia Lai, ngày 09-1-1995.

Phương châm nâng cấp trưng bày đòi hỏi đảm bảo tương đối hoàn chỉnh tiểu sử, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng thời làm nổi bật sự kiện lịch sử quan trọng, truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ, quân và dân các dân tộc hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum, đồng bào các dân tộc mãi mãi đi theo con đường mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn.

Ý đồ, giải pháp trưng bày bảo đảm tính truyền thống và hiện đại phù hợp với phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa của địa phương, với trình độ dân trí và cảm thụ văn hóa của nhân dân hiện nay. Đặc biệt bước đầu đưa chú thích tiếng Jrai, Bahnar, Xê-đăng vào thuyết minh tài liệu, hiện vật trên đai trưng bày.

Nội dung trưng bày lấy cấu tạo đề cương chỉnh lý trưng bày Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Gia Lai và Kon Tum do Bảo tàng Hồ Chí Minh Hà Nội biên soạn làm cơ sở pháp lý và khoa học cho việc xây dựng nội dung trưng bày Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Gia Lai và Kon Tum. Gồm 8 chủ đề.

Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Gia Lai và Kon Tum nằm trong khuôn viên đẹp, ở trung tâm thành phố Pleiku (số 01 Phan Đình Phùng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai). Kiến trúc của công trình độc đáo, hài hoà với cảnh quan và mang đậm sắc thái Tây Nguyên.

Phần trưng bày được bố trí ở tầng 2 của nhà Bảo tàng. Tổng diện tích của Bảo tàng là 15.000m2; trong đó diện tích xây dựng 1.440m2 và diện tích trưng bày 770,08 m2. Tổng số tài liệu, hiện vật của Bảo tàng là 3.584, trong đó có 338 hiện vật đang trưng bày.

 

II. Tóm tắt nội dung nhà trưng bày

Bác Hồ chưa một lần đến Tây Nguyên, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên chưa một lần được đón Bác, nhưng Tây Nguyên luôn ở trong trái tim Người. Nhân dân các dân tộc Tây Nguyên vô cùng kính yêu và biết ơn Người.

Nội dung, ý đồ và giải pháp trưng bày nhằm toát lên về đất nước con người, trong đó có đồng bào các dân tộc Gia Lai và Kon Tum, giúp cho khách tham quan hiểu được một cách có hệ thống, cơ bản con đường đi tìm đường cứu nước, cứu dân - cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, gắn liền với cuộc đấu tranh, cách mạng của nhân dân Việt Nam, chủ ý làm nổi bật truyền thống đấu tranh của Đảng bộ, quân và dân các dân tộc hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của nhân dân ta. Làm nổi bật tình cảm của Bác đối với đồng bào Tây Nguyên nói chung và tấm lòng của đồng bào các dân tộc Gia Lai và Kon Tum đối với Bác, mãi mãi đi theo con đường mà Bác đã chọn, ra sức xây dựng, phát triển quê hương ngày càng “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

Đai trưng bày được thể hiện theo dòng chảy của lịch sử, được đan xen giải hoa văn hoặc mô phỏng những nét văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc Gia Lai và Kon Tum. Nối liền với mạch đai là những tổ hợp không gian hình tượng. Mỗi tổ hợp không gian hình tượng có giải pháp riêng phù hợp với hoàn cảnh, tính chất lịch sử của từng thời kỳ, sự kiện. Là điểm nhấn xúc cảm tư tưởng, trọng tâm của nội dung trưng bày sống động, gắn bó với nhau.

Tòa nhà ( kiến trúc sư Lê Vinh, Sở Xây dựng Gia Lai - Kon Tum thiết kế. Công trình đạt giải B Hội Kiến trúc sư Việt Nam năm 1988) mang hình tượng chung, tiêu biểu là nhà rông, biểu tượng trái tim của đồng bào Tây Nguyên. Nhà rông được coi là “sản phẩm” bản sắc văn hóa độc đáo, tiêu biểu nhất, là trung tâm cộng cảm, nơi diễn ra mọi sinh hoạt văn hóa cộng đồng, quản lý của đồng bào sống trên mảnh đất này.

Vật liệu được xây dựng trong đai trưng bày là gỗ hương, một loại gỗ quý của núi rừng Tây Nguyên mà đồng bào đã gửi gắm vào đó. Trần và sàn nhà gợi cho khách tham quan liên tưởng tới một nhà sàn, nhà dài, nhà rông cách điệu được ôm bọc trong truyền thống văn hóa Tây Nguyên và toát lên tâm tư tình cảm vô bờ bến của đồng bào đối với Bác, tạo ra không gian tình cảm gần gũi, ấm áp như Bác về đây.

Ngoài gian long trọng, nội dung trưng bày gồm có 8 chủ đề, như các Bảo tàng và di tích lưu niệm trong Hệ thống Bảo tàng Hồ Chí Minh, có điểm xuyết tài liệu, hiện vật về tình cảm của Bác dành cho đồng bào Tây Nguyên và tình cảm của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên dành cho Bác; ý chí kiên cường, bất khuất của quân và dân các dân tộc Tây Nguyên trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược; đặc biệt chú ý là chủ đề VIII: Cùng với nhân dân cả nước, đồng bào các dân tộc Gia Lai và Kon Tum mãi mãi đi theo con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân đã chọn (1969 - nay). Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân Việt Nam, trong đó có đồng bào các dân tộc Gia Lai và Kon Tum, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Phần này trưng bày giới thiệu những thành tựu chủ yếu của đất nước và của 2 tỉnh Gia Lai, Kon Tum từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu qua đời cho đến nay, qua đã góp phần khẳng định sức sống bất diệt của tư tưởng Hồ Chí Minh, động viên đồng bào các dân tộc tỉnh Gia Lai và Kon Tum vững bước trong sự nghiệp đổi mới, cùng cả nước phấn đấu cho mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

 

            III. Một số hiện vật tiêu biểu của bảo tàng:

1.  Hiện vật - Tượng Bác Hồ:

 Tượng Bác Hồ do ông Đinh Thanh Hoàn ( Ông Đinh Thanh Hoàn (1920-1999), quê xã Lạc Nhuế, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam) tạc bằng gồ hương - một loại gỗ quý tại núi rừng Tây Nguyên, năm 1982. Thời gian tạc trong 9 tháng thì hoàn thành. Bức tượng cao 1,84m.

 Năm 1945 vào ngày 2-9 tại vườn hoa Ba Đình, từ ở xa, ông Đinh Thanh Hoàn đã nhìn thấy Bác Hồ đọc “Tuyên ngôn độc lập” và ghi vào tâm khảm của mình hình ảnh Bác và có ý nguyện thực hiện điêu khắc tượng Bác. Năm 1977 ông đã điêu khắc tượng Bác bằng ngà voi tặng cho Ty Văn hóa Gia Lai - Kon Tum lúc bấy giờ. Năm 1982 tỉnh Gia Lai - Kon Tum (cũ) tiến hành xây dựng nhà trưng bày về cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh nên đề nghị ông tạc tượng Bác đặt tại gian long trọng. Và ông đã tạc bằng tất cả tình cảm của mình cũng như ước vọng của đồng bào Tây Nguyên đối với Bác Hồ. Năm 1984 trước khi khánh thành, pho tượng Bác (toàn thân) được đón lên đặt ở gian long trọng.

            Đây là biểu hiện tình cảm sinh động tình dân với Bác Hồ. Tượng Bác Hồ không những có giá trị về mặt nghệ thuật mà còn thể hiện tình cảm của nhân dân Gia Lai và Kon Tum đối với Bác Hồ kính yêu. Nhạc sĩ Văn Chừng ( Nhạc sĩ Văn Chừng, Hội Nhạc sĩ Việt Nam, hiện sống tại 258/26 Dã Tượng, thành phố Nha Trang, Khánh Hoà) đã phổ nhạc bài hát “Bác Hồ trong lòng dân Tây Nguyên” trong đó có đoạn: “cây gỗ hương từ rừng già đã hóa thân thành tượng Bác, Bác Hồ ơi.... Bức tượng Bác đang giơ tay vẫy chào, nụ cười đôn hậu với những lớp con cháu đến thăm Người.

            2.  Hiện vật: Tượng Bác Hồ

            Tượng cao 12,5cm, tượng được đúc thủ công bằng đồng tại Yớt Phang, Ia Lang, Đức Cơ, Gia Lai; tượng mô phỏng Bác Hồ ở mặt trận Đông Khê. Bức tượng là sự thể hiện tình dân với Bác, một lòng sắt son với cách mạng “dù có hy sinh cũng quyết giữ bức tượng”.

            Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, đế quốc Mỹ đã nhảy vào xâm lược Việt Nam với thái độ hiếu chiến muốn biến Việt Nam thành bàn đạp chống cộng ở Đông Nam Á và trên thế giới. Đối với Tây Nguyên âm mưu lâu dài của đế quốc Mỹ là biến vùng này thành trung tâm căn cứ quân sự của chúng, nhằm chuẩn bị mở rộng chiến tranh, cùng với việc chiếm đất, lập dinh, chia rẽ người Kinh và người Thượng, bọn Mỹ - Diệm còn thi hành Luật 10/59 trả thù một cách man rợ những người theo kháng chiến. Cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt đó diễn ra, đồng bào các dân tộc Gia Lai với tinh thần kiên cường, bất khuất một lần nữa đã đoàn kết cùng với đồng bào miền Nam đứng lên giành chính quyền ở nông thôn, làm bùng lên phong trào diệt ác, phá ách kìm kẹp diễn ra với khí thế mạnh mẽ. Thắng lợi của phong trào đồng khởi của đồng bào miền Nam nói chung, Gia Lai nói riêng, đã làm phá sản kế hoạch và âm mưu của đế quốc Mỹ.

            Trước sự lớn mạnh của các phong trào đồng khởi những năm sáu mươi, năm 1962, Ngô Đình Diệm thi hành chính sách khủng bố ác liệt các phong trào cách mạng ở miền Nam nói chung, ở Gia Lai nói riêng; các tổ chức đảng và quần chúng ở xã E3 (Ia Lang, Đức Cơ, Gia Lai) đứng trước những khó khăn và thử thách nghiêm trọng, nhưng nhân dân vẫn một lòng tin theo Đảng, theo Bác Hồ, đã đóng góp tiền của, nuôi dấu cán bộ, hoạt động cách mạng. ông Rmah Bơng (là người cất giữ bức tượng Bác Hồ bằng đồng) đã đóng góp 2 chòi lúa (khoảng 2 tấn) cho cách mạng, ông còn là người nuôi dấu các đồng chí Mlang, Nguyễn Đường, Thức, Uy... là những người hoạt động tại đây và phụ trách xã E3.

            Trước sự khủng bố của Ngô Đình Diệm, các đồng chí Mlang, Nguyễn Đường, Thức, Uy... đó tổ chức họp chi bộ xã E3 vào khoảng tháng 5-1962 trong khu rừng thuộc địa phận làng Gào, xã E3, lúc này do đồng chí Mo làm bí thư và có 8 đồng chí đảng viên tham dự. Trong cuộc họp đồng chí Mlang đã trao bức tượng cho đồng chí Rmah Zua, phó bí thư chi bộ là người cất giữ đầu tiên, trước khi giao bức tượng đồng chí Mlang nói: “Đây là tượng Bác Hồ, các đồng chí hãy giữ lấy làm cách mạng, dù có phải hy sinh cũng quyết giữ gìn”. Năm 1965 đồng chí Zua hy sinh, giao lại cho đồng chí Kpiuh Piao cất giữ, sau đó đồng chí Kpiuh Piao hy sinh tượng được giao lai cho đồng chí Rmah Bơng cất giữ (từ 1967-1984). Bức tượng được gìn giữ và sử dụng làm công tác tuyên truyền, làm công tác dân vận, kết nạp đảng viên (từ 1962-1967).

            Trong cuộc chiến tranh ác liệt các đồng chí những người đã từng gìn giữ tượng Bác Hồ, có đồng chí đã hy sinh trong năm 1968, có đồng chí do tuổi cao cũng đã mất. Sau năm 1975, trong số những đồng chí giữ tượng Bác Hồ chỉ còn đồng chí Rmah Bơng còn sống, sinh hoạt tại chi bộ 1, xã Ia Lang, Đức Cơ, Gia Lai (nay đã mất).

            Ngày 17-6-1994, bức tượng đã được trao lại cho Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Gia Lai và Kon Tum, lưu giữ vĩnh viễn.

            3.  Hiện vật: Bản điêu khắc Di chúc

            Năm 1965, vào dịp sinh nhật của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu viết bản Di chúc “Tuyệt đối bí mật”, đến những năm sau, cứ vào dịp sinh nhật, Người lại mang Di chúc ra xem xét, bổ sung thêm những suy nghĩ mới, bản Di chúc Người sửa lần cuối cùng đề ngày 10-5 -1969, bản Di chúc này là những lời căn dặn cuối cùng của Người để lại cho toàn Đảng, toàn dân tộc Việt Nam.

            Năm 1982 công trình Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Gia Lai và Kon Tum được khởi công xây dựng, trong dịp này Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh đã kêu gọi “ai có công góp công, ai có của góp của” để phục vụ cho việc xây dựng Bảo tàng, ông Nguyễn Phước, sống ở làng Mớt, Pleiku, Gia Lai ( Hiện nay nghệ nhân Nguyễn Phước đang sinh sống ở khu tập thể Bệnh viện đa khoa tỉnh Đăk Lăk ) là một trong những người đã đóng góp một phần nhỏ bộ của mình vào công trình “thể hiện lòng dân với Bác”, bằng bản điêu khắc Di chúc bằng gỗ.

Bản điêu khắc Di chúc được ông Nguyễn Phước điêu khắc trong 20 ngày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Gia Lai và Kom Tum năm 1983, bản điêu khắc kích thước 1,46m x 1,15m, bằng gỗ lồng mức, dưới hình thức cưa lộng, nhũ vàng, trích trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đề ngày 10 - 5 -1969, kể cả những chỗ Bác Hồ còn cân nhắc bằng bút đỏ. Bản điêu khắc thể hiện tình cảm của nhân dân Gia Lai, Kon Tum đối với Bác Hồ kính yêu. Bức Di chúc không những có giá trị về mặt nghệ thuật, mà nó còn thể hiện được tình cảm của đồng bào dân tộc Tây Nguyên đối với Bác Hồ kính yêu, bằng tất cả tấm lòng, sự tôn kính của mình đối với Bác Hồ, khi điêu khắc tác phẩm Di chúc này ông Nguyễn Phước còn rất trẻ, ông đã dành hết tâm huyết vào tác phẩm nghệ thuật của mình, đây có thể được coi là là một tác phẩm duy nhất hiện nay ở Việt Nam.

4. Hiện vật: Thư Bác Hồ gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam họp tại Pleiku, 19-4-1946, khắc trên gỗ hương được mô phỏng nhà rông Tây Nguyên.

Bức thư được khắc trên gỗ hương nguyên khối, là loại gỗ quí của núi rừng Tây Nguyên, do phạm nhân của trại Gia Trung điêu khắc, bức thư có kích thước 121,5cm x 84cm, được mô phỏng nhà rông Tây Nguyên. Nhà rông Tây Nguyên là nơi lưu giữ truyền thống lịch sử ngàn đời của dân tộc đồng thời là trung tâm sinh hoạt văn hoá cộng đồng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.

Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời, dân tộc ta mới giành độc lập chưa được bao lâu thì thực dân Pháp đã quay trở lại xâm chiếm nước ta lần thứ hai (23-9-1945). Trước tình hình đó Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam Việt Nam họp tại Pleiku, ngày 19-4-1946, đã được tổ chức để tỏ rõ quyết tâm chống thực dân Pháp của đồng bào các dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư cho Đại hội với lời lẽ mộc mạc, giản dị và gần gũi: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt, chúng ta sống chết có nhau sướng khổ cùng nhau no đói giúp nhau...”. Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh là niềm cổ vũ, động viên đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, Gia Lai vượt qua mọi khó khăn cùng với nhân dân cả nước đánh đuổi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và ngày nay dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, xây dựng tỉnh nhà ngày càng giàu mạnh, góp phần cùng cả nước thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội cụng bằng, dân chủ, văn minh.