BẾP NẤU ĂN PHỤC VỤ BÁC HỒ VÀ THỦ TƯỚNG PHẠM VĂN ĐỒNG

Trần Thị Thắm
                                                            Phòng Tuyên truyền – Giáo dục
 
 Một trong những điểm di tích hiện nay còn ít người biết đến trong khu Phủ Chủ tịch là căn bếp dùng nấu ăn phục vụ Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Di tích là minh chứng cụ thể về cuộc sống giản dị, khiêm nhường của Bác Hồ; vị lãnh tụ luôn gần gũi với nhân dân, đồng cam cộng khổ cùng với nhân dân. Đặc biệt, di tích còn cho chúng ta hiểu rõ hơn về sự quan tâm, chăm sóc của Đảng, Nhà nước đối với sức  khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
 Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh và cơ quan Văn phòng Phủ Chủ tịch về làm việc tại khu Phủ Toàn quyền cũ, cả dãy nhà đã từng sử dụng làm nơi làm việc, nơi ở của những người phục vụ cho Phủ toàn quyền Đông Dương đã được dùng làm kho của Văn phòng cơ quan 41, riêng mấy phòng đầu hồi gần ngôi nhà người thợ điện được tu sửa để làm bếp phục vụ sinh hoạt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Theo ý kiến của Bác thời gian này Bác và Thủ tướng sống, làm việc ở gần nhau nên Bác và Thủ tướng sử dụng chung bếp ăn vừa thuận lợi cho việc phục vụ, vừa tiết kiệm sức lao động cho anh em. Ngoài việc nấu ăn hàng ngày phục vụ Chủ tịch và Thủ tướng, bếp còn là nơi chuẩn bị những buổi tiệc Chủ tịch Hồ Chí Minh mời cơm thân mật khách trong nước và quốc tế, nơi phục vụ nước hay bữa ăn nhẹ cho các đồng chí trong Bộ Chính trị khi tới họp.
Để đảm bảo điều kiện vệ sinh nơi nấu ăn phục vụ Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng, bếp được mở rộng thêm mấy phòng đầu hồi, mở 3 cửa sổ, xây bồn rửa, bể nước chìm để dự trữ nước và chia ra thành 4 phòng với mục đích sử dụng khác nhau như: Căn phòng phía trong cùng là nơi bảo quản thức ăn và đồ dùng phục vụ ăn, uống của Chủ tịch Hồ Chí Minh; 2 căn phòng ở giữa được bố trí làm nơi nấu ăn phục vụ Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng; Căn phòng làm thêm phía ngoài là nơi để bếp đun than củi được sử dụng khi cần thiết.
Để có thể đảm bảo một cách tốt nhất đồ ăn, thức uống phục vụ Bác, phục vụ Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng như khách mời, các đồng chí phục vụ đã đề ra và thực hiện một cách nghiêm túc quy định của bếp như: Đảm bảo tốt giờ giấc làm việc; Không cho người không có nhiệm vụ ra vào bếp; Vệ sinh an toàn thực phẩm với tiêu chí: Thức ăn phải qua kiểm dịch, đồ dùng phảI tiệt trùng, vệ sinh bếp hàng ngày, sử dụng và bố trí vật dụng bếp hợp lý như: 2 chiếc tủ lạnh “ЗИЛ” của Liên Xô (cũ) được sử dụng: một chiếc chứa rau quả tươi và một chiếc chứa thịt tươi sống. 5 chiếc tủ lưới chụp được đặt ở các vị trí khác nhau trong phòng chủ yếu được dùng: để bát đũa phục vụ bữa ăn hàng ngày cho Bác và Thủ tướng ( 2 chiếc): để bảo quản thức ăn đã được sơ chế ( 1 chiếc), để các dụng cụ phục vụ ăn khi có khách (1 chiếc)…
Đồ dùng để nấu ăn rất đơn giản như: bát đũa, ấm pha chè, cối giã cua… được các đồng chí phục vụ mua ở chợ Đồng Xuân. Ngoài ra còn một số đồ dùng Á, Âu đặt mua bên Cục Ngoại giao đoàn để tiện cho việc tiếp khách của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những dịp lễ, Tết. Đặc biệt có 2 chiếc xoong nhôm đã từng được các đồng chí phục vụ dùng để nấu cơm cho Bác trong thời gian Người ở chiến khu Việt Bắc cũng được mang về gian bếp này để sử dụng việc nấu ăn trong suốt thời gian Bác sống, làm việc tại Phủ Chủ tịch.
 Người nấu ăn cho Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian Người ở Phủ Chủ tịch là đồng chí Đinh Văn Hộ (tức Đinh Văn Cẩn) quê ở Kiến An, Hải Phòng (cũng là người đã từng phục vụ Bác trong suốt gian Người ở chiến khu Việt Bắc), đồng chí đã đạt đến bậc 8 về kỹ thuật nấu ăn, bếp viên là đồng chí Đặng Văn Lơ. Những người vinh dự được chăm lo bữa ăn cho Bác, chứng kiến cuộc sống giản dị, tiết kiệm của Bác đều nhận thấy rằng: ở Bác là một tấm gương mẫu mực về giản dị, khiêm tốn. Người là lãnh tụ tối cao của đất nước, nhưng trong cuộc sống đời thường, Bác sống hòa đồng với mọi người, cùng chia sẻ khó khăn, không có sự phân biệt hay ngăn cách giữa Chủ tịch nước và người phục vụ. Tại căn bếp nhỏ này, những người phục vụ hàng ngày chuẩn bị bữa ăn cho Bác, những bữa ăn không cầu kỳ, không có cao lương mỹ vị, mà đó chỉ là những bữa ăn như bao gia đình Việt Nam vẫn thường dùng: bát canh, quả cà, con cá kho, hoặc lát thịt kho… đôi khi vào buổi trưa trên mâm cơm của Người lại có món ăn mang đượm hương vị quê nhà: cá kho tương hoặc cà dầm tương. Có lẽ, từ  sâu thẳm trong tâm hồn Bác hình ảnh quê hương vẫn in đậm trong trái tim Người.
Sức khoẻ của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tài sản vô giá của quốc gia của dân tộc. Vì vậy, từ các đồng chí trong Bộ Chính trị đến những người phục vụ đều rất quan tâm đến Bác. Là người được vinh dự dùng cơm với Bác nhiều lần, Thủ tướng Phạm Văn Đồng căn dặn các đồng chí phục vụ: chú ý sau mỗi bữa ăn của Bác, các chú xem trên mâm còn nhiều hay ít, nếu còn nhiều thức ăn, chứng tỏ sức khoẻ của Bác không được tốt hay có thể do món ăn không phù hợp; hoặc hỏi đồng chí Vũ Kỳ xem Bác có ý kiến gì về các món đã nấu không để kịp thời điều chỉnh món ăn cho phù hợp, làm sao đảm bảo một cách tốt nhất sức khoẻ của Người. Biết Bác thích món cá kho khô, nhất là cá trê, nên có lần Bác đi công tác nước ngoài dài ngày, đồng chí đã gửi công thức và hướng dẫn cách kho cá cho đồng chí Vũ Kỳ để nấu cho Bác.
Là những người giàu kinh nghiệm, nấu ăn khéo nhưng những người phục vụ bếp ăn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng vẫn chú ý bổ sung thêm kiến thức. Khi có chuyên gia nấu ăn của Trung Quốc sang huấn luyện cho các đầu bếp Việt Nam, các đồng chí đã tranh thủ sắp xếp thời gian để theo học…
Để phục vụ bữa ăn của Bác được chu đáo, kịp thời, các đồng chí phục vụ đã đặt trong bếp chiếc đồng hồ báo thức để tiện theo dõi thời gian phục vụ bữa ăn hàng ngày của Bác, nhưng có những lần do Bác làm việc hoặc tiếp khách quá cả thời gian mà Bác dùng bữa vì vậy mà đồ ăn cũng như thức uống bị nguội, làm Bác ăn không được nhiều. Lo lắng cho sức khoẻ của Người, các đồng chí đã nghĩ ra một cách là treo ở đầu nhà bếp phía ngoài, trước cửa phòng của đồng chí thư ký (đồng chí Vũ Kỳ) một chiếc chuông nhỏ, ngày 3 lần lúc nào Bác từ nhà sàn sang ăn cơm, các đồng chí bảo vệ bấm chuông. Nghe tiếng chuông reo, những người phục vụ bếp chuẩn bị mâm cơm bê lên phòng ăn trong ngôi nhà 54 để Bác dùng.
Mặc dù với cương vị là Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước bận trăm công nghìn việc nhưng Bác vẫn dành thời gian để gặp gỡ, tiếp đón nhiều đoàn khách đến thăm hoặc làm việc. Họ là đại biểu của các nước, đại biểu chính đảng, đoàn thể, tôn giáo, quân đội, đại biểu của đồng bào chiến sĩ miền Nam… Vì thế, căn bếp nhỏ cũng là nơi nấu ăn phục vụ khách mời của Bác. Hôm nào mời khách ăn cơm, Bác cũng thường báo trước cho đồng chí cấp dưỡng biết để chuẩn bị và số tiền đãi khách đó được trừ vào tiền lương của Bác.Người cũng chú ý nhắc các đồng chí phục vụ nấu những món ăn phù hợp với khẩu vị của khách. Thấu hiểu được tình cảm, cách tiếp đón khách chu đáo, ân cần, cởi mở… của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đồng chí phục vụ đã luôn chủ động trong những đồ ăn cho khách. Vì vậy, khi Bác tiếp khách ở miền Nam, các đồng chí nấu món ăn: canh chua cá lóc, cá rô kho tộ; khi là khách Huế lại là mắm cá, cà pháo; Đối với khách nước ngoài bên cạnh các món ăn mang đặc trưng của dân tộc Việt Nam, là những đồ ăn phù hợp với bạn, để mọi người dùng bữa cảm thấy ngon miệng, lại đảm bảo sức khoẻ.
Mỗi khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm, làm việc tại các địa phương, để tránh phiền hà cho cán bộ, nhân dân, theo đề nghị của Bác các đồng chí phục vụ ở bếp từng chuẩn bị và nấu những món ăn: lúc là nắm cơm với muối vừng, khi là bánh mỳ với thức ăn nguội… sau đó cho vào khay, cặp lồng rồi xếp vào chiếc hòm gỗ nhỏ mang đi, để đến giờ ăn cơm Bác và các đồng chí đi cùng dừng xe, chọn nơi vắng, mát, sạch cùng bày cơm ra ăn đơn giản. Có lần Bác nói với anh em: Người ta dọn ra một bữa cơm song Bác cháu mình có khi chẳng ăn và chẳng ăn hết. Nhưng rồi để lại cái tiếng: đấy Bác Hồ đến thăm cũng làm cơm thế này, thế nọ, cũng điều động người làm mất thời gian. Thế là tự mình, Bác lại bao che cho cái chuyện xôi thịt.. như thế nắm cơm theo ăn cho tiện, ăn no rồi đến làm việc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi thiếu niên, nhi đồng là mầm non của Tổ quốc, là “búp trên cành” là “mùa xuân” của xã hội. Nên tình cảm, sự quan tâm đặc biệt Bác luôn giành cho các cháu. Hiện nay, trong căn bếp vẫn còn lưu giữ chiếc thùng đựng kẹo, được các đồng chí phục vụ mua để phục vụ việc tiếp khách và là phần thưởng của Bác với các cháu thiếu niên, nhi đồng. Khu Di tích là nơi Bác thường xuyên đón tiếp các cháu vào vui chơi, xem phim với Người. Trước khi chiếu phim Bác thường đề nghị các cháu múa hát. Kết thúc tiết mục, Người đều thưởng quà cho các cháu, những món quà tuy nhỏ, nhưng vô cùng ý nghĩa đó là những chiếc kẹo của Bác đã dành cho.
Chiếc cối xay bằng đá được các đồng chí phục vụ mua năm 1962 để dùng xay bột làm bánh dân tộc như bánh cuốn, bánh hỏi… phục vụ Bác, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng như khách mời của Người. Nhưng vào những năm 1965, khi cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ đối với Việt Nam diễn ra ác liệt. Nhân dân miền Bắc “thắt lưng buộc bụng”, gom góp lương thực để gửi ra tiền tuyến, nhà nhà đều ăn độn ngô, khoai, sắn. Chiếc cối này được các đồng chí nấu bữa ăn theo lời dặn của Người: dân, cán bộ, phải ăn cơm độn với ngô, khoai, sắn bao nhiêu phần trăm thì cũng độn cho Bác bấy nhiêu phần trăm. Giống như cán bộ, như dân. Nhìn Bác ăn độn mà anh em xót quá, mới thưa với Bác là có quy định các cụ già trên 70 tuổi không cần phải ăn cơm độn, nhưng Bác bảo: Bác cũng nhiều tuổi, nhưng Bác còn khỏe. Thế thì Bác theo cán bộ. Cán bộ thế nào thì Bác thế ấy, cứ thổi tiếp đi cho Bác ăn”. Ý Bác không thể không làm.Các đồng chí phục vụ đã nghĩ ra cách tìm ngô non, xay nhỏ, nấu cho Bác ăn, vừa dễ ăn lại dễ tiêu hóa và cũng làm Bác yên lòng. 
Cùng với các di tích trong Khu Di tích Phủ Chủ tịch, gian bếp nấu ăn phục vụ Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng sẽ góp phần giúp chúng ta hiểu biết rõ thêm về đời sống của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với cương vị là Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước, nhưng cuộc sống đời thường của Người không khác gì cuộc sống đạm bạc của người bình thường. Điều đó càng khẳng định rằng, sự vĩ đại của Bác Hồ không chỉ bằng sự nghiệp cách mạng cao cả mà còn được minh chứng qua lối sống thanh bạch, giản dị tại nơi đây như một tác giả nước ngoài đã viết: Cuộc sống giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự gần gũi với nhân dân là đặc trưng cho tình yêu đối với đất nước của một Con người đã trở thành huyền thoại ngay cả trong cuộc sống đời thường của mình.