Tính nhân văn trong tự phê bình và phê bình của Bác Hồ

Nguyễn Văn Công
GĐ Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
        Với nhãn quan chính trị nhạy bén, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhìn thấy nguy cơ của một Đảng cầm quyền là vấn đề vấp phải những sai lầm, khuyết điểm, Người chỉ ra cụ thể và “bốc” trúng thang thuốc trị bệnh có hiệu quả là thường xuyên tự phê bình và phê bình trong Đảng. Theo Bác, phê bình cho đúng là để giúp nhau sữa chữa khuyết điểm, là tính yêu thương và sự tiến bộ của đồng chí mình, đó cũng chính là mục đích của phê bình. Để đạt được mục đích đó, tự phê bình và phê bình phải chân thành, lý lẽ phải phân minh, nghĩa tình phải đầy đủ và quan trọng nhất là "Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau".
        Thấm nhuần tư tưởng của Bác Hồ, sử dụng tự phê bình và phê bình như một vũ khí, Đảng ta đã đạt được nhiều kết quả trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tuy nhiên, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung, tự phê bình và phê bình nói riêng, nhiều lúc, nhiều nơi còn bị buông lỏng hoặc thực hiện hình thức chiếu lệ. Để tự phê bình và phê bình có kết quả tốt hơn, đoàn kết hơn, Bác căn dặn: “Khi phê bình mình cũng như phê bình người khác phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm lẫn khuyết điểm. Đồng thời chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. Phê bình việc làm chứ không phải phê bình người”(1). Đó chinh là tính nhân văn trong tự phê bình và phê bình của Bác mà chúng ta phải thật sự thấm nhuần một cách sâu sắc nhất.
        Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải tự phê bình vì làm người khó có ai tránh khỏi lỗi lầm, thiếu sót. Đảng ta là một tổ chức chính trị tiên phong của giai cấp công nhân, tập hợp những chiến sĩ trung kiên, thông minh, dũng cảm..., nhưng Đảng cũng từ xã hội mà ra, không phải “trên trời rơi xuống” nên không tránh khỏi khuyết điểm, thiếu sót. Người chỉ ra nhiều lý do khách quan, chủ quan dẫn tới thiếu sót, khuyết điểm của cán bộ, Đảng viên. Quan trọng nhất trước những thái độ, lỗi lầm mắc phải. Nếu “sợ mất uy tín và thể diện”, không quyết tâm sữa chữa sai lầm, khuyết điểm đó là điều bất bình thường. Hồ Chí Minh khẳng định “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” (2).
        Khi xem xét yếu kém yếu kém, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt trong môi trường sống cụ thể và coi tự phê bình và phê bình là thang thuốc “xổ bệnh” hiệu nghiệm giúp cán bộ, đảng viên sống cao đẹp hơn, phục vụ cho nhân dân nhiều hơn. Để phát huy hết những ý nghĩa của công tác tự phê bình và phê bình, đòi hỏi phải nhận thức rõ những yêu cầu của nó. Trước hết, tự phê bình và phê bình phải mang tính giáo dục. Thông qua tự phê bình và phê bình mỗi cán bộ, đảng viên, công chức có dịp rèn luyện và nâng cao phẩm chất đạo đức, phát triển trí tuệ và năng lực công tác. Ngoài ra, tự phê bình và phê bình phải mang tính khách quan, trung thực, chân thành và công khai. Khi phê bình mình cũng như phê bình người khác, phải tôn trọng thực tế khách quan, không suy tính nhỏ nhen, không vội vàng quy kết, đồng thời phê bình cũng như cứu người, phải lấy lòng chân thành, lấy lòng thân ái mà thẳng thắn phê bình đồng nghiệp, đồng chí mình. Bên cạnh đó, công tác tự phê bình và phê bình phải đảm bảo tính cụ thể, thiết thực, kịp thời. Có như vậy tự phê bình và phê bình mới thật sự là vũ khí sắc bén, đem lại hiệu quả thiết thực đồng thời giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch và vững mạnh.
         Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ để phê bình và tự phê bình đạt kết quả mong muốn, điều có ý nghĩa then chốt là phải “phê bình cho đúng”. Phê bình cho đúng chẳng những không làm giảm thể diện, uy tín của người bị phê bình, trái lại, còn làm cho sức mạnh, uy tín của Đảng và cán bộ đảng viên tăng lên. Muốn phê bình cho đúng, trước hết phải xác định đúng mục đích và đối tượng phê bình. Phê bình cốt là để giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, làm việc cho tốt hơn, tạo ra sự đoàn kết, thống nhất nội bộ. Phê bình mình cũng như phê bình người khác không phải là dịp để công kích lẫn nhau, nói xấu và bôi nhọ danh dự của nhau. Bản thân mình khi phê bình người khác không phải là soi mói, “bới lông tìm vết” của đồng chí mình để tìm cơ hội “hạ bệ” lẫn nhau. Vì vậy, Người yêu cầu, cần phải tránh triệt để hiện tượng: “Khi phê bình ai, không phải vì Đảng, không phải vì tiến bộ, không phải vì công việc, mà chỉ công kích cá nhân, cãi bướng, trả thù, tiểu khí”(3). Người xác định đối tượng cần phê bình là công việc chứ không phải phê bình người. Những việc làm sai trái, những suy nghĩ lệch lạc, sai lầm, khuyết điểm dù đó là của cá nhân hay của tổ chức, dù đó là đảng viên bình thường hay là cán bộ cấp cao đều phải được phê bình một cách kiên quyết và “phải lập tức sửa chữa”. Người nhấn mạnh: Đối với cơ quan lãnh đạo cũng như đảng viên giữ cương vị lãnh đạo trong các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể phải hết sức gương mẫu trong việc thực hiện tự phê bình và phê bình, tuyệt đối không được “phùng mang trợn mắt” làm thui chột tinh thần của đảng viên, quần chúng nhân dân trong đấu tranh phê bình, tự phê bình.
         Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thái độ đúng với những khuyết điểm, thiếu sót và tìm ra phương pháp phê bình thích hợp là điểm có ý nghĩa mấu chốt trong nâng cao hiệu quả của tự phê bình và phê bình trong Đảng. Người cũng nghiêm khắc lên án thái độ, cách xử lý không đúng đắn trước những khuyết điểm, thiếu sót của tổ chức đảng hay cán bộ, đảng viên. Khi có người mắc phải sai lầm, khuyết điểm, thái độ đúng của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng là không “đao to búa lớn”, vội vàng chụp mũ cho họ là “cơ hội chủ nghĩa” rồi đi đến cảnh cáo “khai trừ” một cách áp đặt. Muốn cho họ thành tâm sửa chữa, phải tiến hành giải thích rõ ràng, làm cho họ tự nhận thấy sai sót của mình để vui lòng sửa chữa. Để làm được điều đó, “phải biết cách phê bình sáng suốt, khôn khéo, như chiếu tấm gương cho mọi người soi thấu những khuyết điểm của mình, để tự mình sửa chữa”(4). Phê bình “khôn khéo” ở đây, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, là phải đồng thời vạch rõ ưu điểm và khuyết điểm, tránh dùng những lời mỉa mai, chua cay đâm thọc, không được hữu khuynh “a dua”, “tâng bốc” mà phải phê, tự phê một cách “ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang thêm bớt”.
         Sự “khôn khéo” còn thể hiện ở chỗ tiến trình tự phê bình và phê bình phải được đặt trong khuôn khổ của tổ chức, có sự lãnh đạo chặt chẽ. Lãnh đạo, chỉ huy phải khơi dậy được tinh thần dân chủ không chỉ trong Đảng mà cả trong quần chúng nhân dân. Làm như thế mới tránh được hiện tượng đảng viên, cán bộ và quần chúng nhân dân dù có ý kiến cũng không dám nói, không dám đấu tranh phê bình. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn cho rằng: “Họ không dám nói không phải vì họ không có ý kiến, nhưng vì họ nghĩ nói ra cấp trên cũng không nghe, không xét, có khi lại bị “trù” là khác.
         Họ không dám nói ra nên họ cứ để trong lòng, rồi sinh ra uất ức, chán nản, sinh thói “không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng”,“trong Đảng im tiếng, ngoài Đảng nhiều mồm” sinh ra thói “thậm thà thậm thụt” và những thói xấu khác.          
         Kinh nghiệm là: cơ quan nào mà trong lúc khai hội, cấp trên để cho mọi người có gì nói hết, cái đúng thì nghe, cái không đúng thì giải thích, sửa chữa, ở những cơ quan đó mọi người đều hoạt bát mà bệnh “thì thầm thì thào” cũng hết”(5).
         Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: tự phê bình và phê bình phải được tiến hành một cách thường xuyên liên tục. Làm được như vậy, theo Người: các sai lầm khuyết điểm sẽ được rửa sạch ngay khi nó mới phôi thai. Còn “nếu để sai lầm, khuyết điểm trở nên to tát rồi mới đem ra “chỉnh” một lần, thế là “đập” cán bộ. Cán bộ bị “đập”, mất cả lòng tự tin, người hăng hái cũng hoá thành nản chí, từ nản chí đi đến vô dụng”(6), như thế là không thực hiện đúng mục đích của tự phê bình, phê bình, không vì sự tiến bộ mà còn mất dần đảng viên, cán bộ.
         Những ý kiến về tự phê binh và phê bình cho đúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa nói lên tính Đảng, vừa nói lên tính nhân văn, văn hoá của người tự phê bình và phê bình. Muốn sửa chữa sai lầm khuyết điểm đi đến sự tiến bộ thì phải dựa vào tinh thần tự giác của đảng viên, cán bộ và dùng biện pháp giải thích, thuyết phục. Điều đó là hết sức cần thiết nhưng như thế không có nghĩa là không giải quyết bằng con đường tổ chức. Người chỉ ra lỗi lầm cũng có “việc nhỏ, việc to”, nếu không dùng biện pháp xử phạt thì kỷ luật của Đảng cũng trở nên lỏng lẻo, và điều đó cũng là sự mở đường cho bọn cố ý dễ dàng phá hoại Đảng ta. Do vậy, để tự phê bình và phê bình được tăng thêm hiệu quả thì phải kết hợp chặt chẽ với biện pháp tổ chức, soi xét kỹ lưỡng từng trường hợp để có hình thức xử lý thích hợp.
         Thực tế cho thấy: khi nào nguyên tắc tự phê bình và phê bình bị buông lỏng, sao nhãng, hoặc thực hiện không đúng với tinh thần, tư tưởng Hồ Chí Minh thì khi đó, tổ chức Đảng không thể vững mạnh, thậm chí rơi vào tình trạng suy thoái, nguy cơ mất còn đối với Đảng, với sự nghiệp Cách mạng của Đảng được đặt ra. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI đã báo động về nguy cơ này khi nhận định: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...”. Tình trạng đó “đã làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ”. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI đã vạch rõ những nguyên nhân khách quan và chủ quan của tình trạng trên đây, trong đó nhấn mạnh một nguyên nhân chủ quan: “các nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi vừa bị buông lỏng trong thực hiện, vừa chưa được quy định cụ thể để làm cơ sở cho công tác kiểm tra, giám sát...”(7).
         Là một chiến sĩ cộng sản đã lăn lộn, từng trải, dày dạn kinh nghiệm, với nhãn quan chính trị hết sức nhạy bén, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhìn thấu được nguy cơ của một Đảng cầm quyền là dễ vấp phải những sai lầm, khuyết điểm. Người đã chỉ ra một cách cụ thể và đồng thời bốc trúng thang thuốc “xổ bệnh” có hiệu quả cao là tiến hành phê bình trong Đảng. Phê bình cho đúng được Chủ tịch Hồ Chí Minh luận giải trong tất cả các đề mục của tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” đều toát lên tư tưởng của Người về tình yêu thương con người, vì sự tiến bộ của mỗi đảng viên, cán bộ. Người cỗ vũ và chỉ rõ cho mỗi đảng viên, cán bộ con đường tự giải thoát và giúp nhau giải thoát khỏi mọi chứng bệnh, vượt lên mọi cám dỗ thấp hèn, thực sự là con người mới xã hội chủ nghĩa.
         Hiện nay, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang thực hiện cuộc vận động lớn: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Để cuộc vận động đạt được mục tiêu đề ra thì giải pháp hàng đầu là tiến hành tự phê bình và phê bình mà điểm then chốt của nó là phải tự phê bình và phê bình cho đúng và cũng chính là một biểu hiện của sự thấm sâu tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong mỗi chúng ta.

(1) HCM Toàn tập, tập5, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2000, tr.232.
(2) HCM Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2000, tr. 261.

(3) HCM Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2000, tr. 258.
(4) HCM Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2000, tr. 244.
(5) HCM Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2000, tr. 244.
(6) HCM Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2000, tr. 282
(7) Nghị quyết số 12-NQ/TW Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay.