Chủ tịch Hồ Chí Minh với Lạng Sơn

Cao Thanh Huyền
Phòng Tuyên truyền - Giáo dục
Lạng Sơn - mảnh đất địa đầu của Tổ quốc nằm ở phía Đông Bắc, cách thủ đô Hà Nội 154 km đường bộ và 165 km đường sắt; phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía Đông Bắc giáp Trung Quốc, phía Đông Nam giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Nam giáp tỉnh Bắc Giang, phía Tây Nam giáp tỉnh Thái Nguyên, phía Tây giáp tỉnh Bắc Kạn. Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, quê hương Xứ Lạng đã không ngừng đứng lên kề vai sát cánh cùng quân và dân cả nước đánh bại những cuộc xâm lăng của các thế lực phương bắc, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, dân tộc, giữ yên bờ cõi. Từ ngày có Đảng, có Bác Hồ lãnh đạo, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Lạng Sơn tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, đã góp sức mình cùng với nhân dân cả nước vượt qua những chặng đường cách mạng đầy khó khăn gian khổ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Vinh dự và tự hào, ngày 23-2-1960, tỉnh Lạng Sơn được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức về thăm lần đầu tiên. Để chuẩn bị cho Bác lên đường đi Lạng Sơn, các cơ quan liên quan ở Trung ương và địa phương đã phối hợp chuẩn bị chu đáo, cẩn mật, an toàn. Lúc đầu dự định sẽ đưa Bác lên Lạng Sơn bằng máy bay trực thăng nhưng do thời tiết xấu, Trung ương bố trí xe ô tô đưa Bác đi Lạng Sơn. Thời điểm ấy, mặt đường bộ Hà Nội - Lạng Sơn không được tốt nên Bác đến Lạng Sơn chậm 1 giờ so với kế hoạch. Đoàn cán bộ lãnh đạo tỉnh đi theo đường 1A (cũ) để đón Bác, mới đến cây số 12 địa phận xã Tân Thành (Cao Lộc), thì gặp xe của Bác. Bác mặc bộ quần áo lụa mầu nâu giản dị bước xuống xe, sau đó Bác mới khoác thêm bộ kaki lễ phục thường dùng tiếp khách... Xe của Người đi giữa một rừng hoa cùng tiếng vỗ tay và nụ cười kính yêu của cán bộ và nhân dân đứng đón Bác. Lãnh đạo tỉnh tiếp Bác cùng đoàn tại tầng 2 cơ quan Tỉnh ủy. Sau khi nghe lãnh đạo tỉnh báo cáo chương trình làm việc, Bác bảo ra ngay chỗ đồng bào đang đợi: “Bác mệt thì mặc Bác, để đồng bào chờ lâu như vậy là Bác đã có lỗi với đồng bào”.
Bác đã ân cần nói chuyện với Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Lạng Sơn tại sân vận động Đông Kinh. Bài nói chuyện được Người chuẩn bị rất chu đáo, gồm 10 vấn đề cơ bản để nhắc nhở cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc Lạng Sơn. Trước hết Bác biểu dương "trong thời kỳ kháng chiến, đồng bào và cán bộ tỉnh ta đã có nhiều cố gắng và thành tích. Đó là những ưu điểm, Trung ương và Chính phủ vui lòng khen ngợi toàn thể cán bộ và đồng bào"1. Trong không khí xúc động, đầm ấm và thân thiết, Bác đã ân cần căn dặn đồng bào "Chủ nghĩa xã hội là mọi người dân được áo ấm, cơm no, nhà ở tử tế, được học hành. Muốn như vậy thì mọi người phải thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, hiểu rõ và làm cho đúng chính sách của Đảng và Chính phủ, hoàn thành tốt kế hoạch Nhà nước..."2. Người cũng nhắc nhở những vấn đề tỉnh nhà làm còn kém, đó là: tiểu thuỷ nông, phân bón; cải tiến nông cụ; bảo vệ trâu bò. Đặc biệt, Bác nhấn mạnh: phải chú ý đến đặc điểm của Lạng Sơn là một tỉnh miền núi gồm nhiều dân tộc sinh sống, là tỉnh biên giới giáp Trung Quốc, vì vậy phải chú ý làm tốt công tác dân vận, động viên đồng bào các dân tộc "phải hiểu thấu, phải nhớ kỹ, phải làm đúng"3.. Sau buổi mít tinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đi thăm bệnh viện tỉnh, trường văn hóa quân đội, trường Thiếu nhi rẻo cao… Tới đâu Người cũng đã đặc biệt chú ý nơi ăn chốn ở có hợp vệ sinh không, công tác chăm sóc bệnh nhân của các y bác sĩ, Người tới tận giường bệnh thăm hỏi động viên bệnh nhân hay thăm các cháu thiếu nhi, hỏi han tình hình tăng gia sản xuất để đảm bảo đời sống của mọi người dân trong vùng… Trước khi về lại thủ đô Hà Nội, Bác còn tặng cho các đồng chí trong Tỉnh ủy một tấm ảnh chân dung của Bác làm kỷ niệm, chính tay Bác đề tặng và ký tên.
Một năm sau, mùa xuân năm 1961, Bác đã dành thời gian để thăm hỏi đồng bào tại huyện Tràng Định tỉnh Lạng Sơn. Đây cũng là lần cuối cùng Bác lên thăm địa phương. Nhân dịp năm mới, Bác gửi lời chúc đồng bào và các cháu bước sang năm mới được mạnh khỏe, công tác, sản xuất thắng lợi, học tập và tiến bộ tốt. Người cũng ân cần căn dặn đồng bào phải xây dựng hợp tác xã lớn hơn nữa như thế có nhiều người mới có đủ sức mạnh để sản xuất tốt, làm ra được nhiều thóc gạo của cải để đời sống ngày càng được nâng cao, cải thiện đóng góp được nhiều cho xã hội. Bác ân cần căn dặn: "Bác nghe nói ở đây hợp tác xã còn nhỏ, còn ít. Đồng bào phải vào hợp tác xã, đoàn kết các dân tộc, xây dựng hợp tác xã vững mạnh, làm ăn tốt để tiến lên Chủ nghĩa xã hội. Bác căn dặn đồng bào phải giữ gìn sức khỏe để sản xuất, học tập và công tác tốt. Bác đến chỉ được một chút thôi, Bác chúc đồng bào mạnh khỏe, tích cực sản xuất, công tác và học tập tốt. Bác gửi lời chào đến tất cả đồng bào địa phương". Tiếp đó Bác hỏi rất kỹ tình hình của huyện, tình hình nhân dân vào hợp tác xã ra sao, trồng màu, sản xuất thế nào, Bác căn dặn cán bộ: "Các chú nhớ là phải vận động, đưa nông dân vào hợp tác xã thật nhiều, cán bộ làm việc phải sâu sát dân, hiểu dân và vận động dân vào hợp tác xã sản xuất tốt mới tiến lên Chủ nghĩa xã hội được ”4… Tiếng nói của Người đầm ấm, thân thương trước 2,5 vạn cán bộ, nhân dân Lạng Sơn trên sân vận động Đông Kinh ngày ấy còn vang đến bây giờ và mãi mãi đến mai sau.
Thấm nhuần lời dạy của Bác, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Lạng Sơn đã nhanh chóng bắt tay vào việc khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, củng cố lực lượng vũ trang, xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng các cấp. Kết quả đến cuối năm 1961 huyện Tràng Định hoàn thành việc củng cố và xây dựng hợp tác xã, đưa 95% nhân dân trong huyện vào hợp tác xã. Trong đó xuất hiện nhiều hợp tác xã có phong trào sản xuất giỏi như Cắp Kẻ, Thống Nhất, Bình Lâm, Đại Thanh, Đại Quang, Đề Thám, Bản Quyền v.v… Có hợp tác xã như Cắp Kẻ, Thống Nhất đã đưa năng suất lúa từ 3 tấn lên 5 tấn rồi 8 tấn một ha, được tỉnh, khu và Trung ương tặng bằng khen (Hợp tác xã Cắp Kẻ được Trung ương tặng Huân chương lao động hạng 3, Thống Nhất được tặng Huân chương lao động hạng nhì) đi đầu trong toàn tỉnh và khu trự trị Việt Bắc. Sau này để lưu niệm sự kiện lịch sử này, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Lạng Sơn đã xây dựng khu Lưu niệm chủ tịch Hồ Chí Minh ở gần Sân vận động Đông Kinh, trở thành một điểm sinh hoạt văn hoá, giáo dục truyền thống ý nghĩa.
Hơn chín năm sau, cũng tại sân vận động Đông Kinh, dưới làn mưa nặng hạt đầu thu, nhân dân tỉnh Lạng Sơn vô cùng đau đớn đến dự lễ truy điệu để vĩnh biệt Người và đón nghe lời Di chúc thiêng liêng: "..Cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ hi sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn..."5. Nhân dân các dân tộc Lạng Sơn đã hòa cùng với nhân dân cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Lớp lớp thanh niên thực hiện "3 sẵn sàng", "3 đảm đang" động viên nhau lên đường xẻ dọc Trường Sơn đi giải phóng Tổ quốc. Nhân dân Lạng Sơn tham gia phục vụ 5 triệu rưỡi ngày công, trong đó có việc xây dựng đường ống dẫn dầu xuyên Việt. Ngày đêm đảm bảo giao thông thông suốt chi viện cho tiền tuyến. Đảng bộ cùng nhân dân các dân tộc Lạng Sơn tự hào đã đóng góp sức mình vào chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, non sông thu về một mối. Với thắng lợi vĩ đại đó, mở ra một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
          Bước vào thời kỳ đổi mới, bên cạnh một số thuận lợi cơ bản, Lạng Sơn gặp không ít khó khăn thách thức. Là tỉnh miền núi biên giới, có xuất phát điểm thấp, còn nghèo, lại phải đối mặt với những diễn biến khắc nghiệt của khí hậu, thời tiết. Trong hoàn cảnh đó, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Lạng Sơn đã "Chung sức, đồng lòng" phấn đấu, đoàn kết vượt qua mọi khó khăn, phát huy truyền thống cách mạng, tin tưởng vào đường lối đổi mới. Đặc biệt, từ năm 1991, thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đề ra. Sự nghiệp đổi mới của tỉnh ngày càng có những chuyển biến mới và đạt nhiều thành tựu quan trọng. Kinh tế liên tục phát triển, nhịp độ tăng trưởng khá cao: GDP giai đoạn 1986 - 2000 tăng bình quân 7,53%/năm, giai đoạn 1991 - 2000 tăng 9,57%/năm và giai đoạn 2001 - 2003 là 9,96%/năm. Cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp và nông thôn từng bước chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, bước đầu hình thành các vùng cây công nghiệp, cây đặc sản, cây ăn quả như hồi (Văn Quan, Văn Lãng), thông (Lộc Bình, Đình Lập), cà phê (Hữu Lũng), chè (Đình Lập), quýt (Bắc Sơn), na (Chi Lăng)...Hoạt động thương mại sôi động, lưu thông hàng hóa phát triển mạnh, thị trường ngày càng được mở rộng và phong phú. Hoạt động hợp tác đầu tư, liên doanh, liên kết với các tỉnh và ngoài nước ngày càng được đẩy mạnh.
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người, Đảng bộ và quân dân các dân tộc Lạng Sơn ghi sâu công ơn trời biển của Bác kính yêu - luôn phát huy truyền thống của Chi Lăng lịch sử, Bắc Sơn khởi nghĩa, "đường 4 anh hùng" đoàn kết vượt mọi khó khăn thử thách, góp phần làm tròn xứ mệnh xây dựng, bảo vệ và phát triển dải đất biên cương ngày càng vững mạnh, giàu đẹp, văn minh./.
________________________________
 
1. Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2009, t. 7, tr. 428
2, 3. Hồ Chí Minh - Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t. 12, tr. 490 - 493
4, 5. Bác Hồ với nhân dân các dân tộc Lạng Sơn, Tỉnh ủy Lạng Sơn, Nxb Văn hóa - thông tin, 1995, tr. 294.