Mỗi câu chuyện nhỏ - Một bài học lớn (phần 1)

TẤM VÁN LÁT ĐƯỜNG
            Hôm ấy, một buổi chiều cuối hè năm 1958. Sau cơn mưa giông ngày hôm trước, trời vén mây cao tít, để lộ ra từng khoảng trời xanh biếc, đôi lúc có những lớp mây trắng bạc bập bềnh đuổi nhau. Đó là một buổi chiều đẹp trời, mát mẻ.
            Lúc bấy giờ, khu tập thể của Nhà máy Cơ khí Hà Nội còn nghèo, chưa có nhà ba tầng, đường chưa lát đá như bây giờ. Trận mưa còn để lại những vũng lầy lội. Một chiếc ô tô màu xám nhạt đi rất êm, nhẹ, dừng lại bên hàng rào nứa cạnh chiếc quán lá bán quà sáng cho công nhân. Bác đến! Lúc đó nhiều anh chị em công nhân trông thấy Bác reo ầm lên, đổ xô cả lại. Vẫn bộ ka ki bạc màu, đôi dép cao su đen, quai to bản, đế mỏng, Bác nhanh nhẹn bước vào khu tập thể. Anh chị em công nhân theo Bác rất đông, trong đó có một số đồng chí lãnh đạo nhà máy. Khi sắp đến một vũng nước ngay giữa lối đi, đồng chí thư ký công đoàn nhà máy vội vàng đi lấy một tấm ván kê vào chỗ lội để Bác bước lên thềm hội trường. Bác xua tay, vén quần và cứ thế lội xuống nước cùng anh chị em công nhân bước lên thềm nhà. Sau đó, Bác dừng lại, quay về phía anh em công nhân, rồi nói với đồng chí thư ký công đoàn nhà máy:
         - Các chú là người phụ trách, các chú cần phải để ý đến nơi ăn, chốn ở của công nhân hơn nữa. Không phải bắc ván chỉ cốt để Bác đi, mà phải làm sao đường sá được sạch sẽ, để khi anh chị em công nhân đi làm về khỏi phải đi vào chỗ lầy lội, bẩn thỉu...
                               
                                                      BỮA CƠM TRÊN TÀU VỚI BÁC
              Cuối tháng 3-1959, lần đầu Bác Hồ cùng đồng chí Nguyễn Lương Bằng và các đồng chí ở Trung ương về thăm quân chủng Hải quân đi thăm biển, các đảo thuộc vùng biển tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng. Nhiệm vụ đưa đón Bác và các đồng chí đại biểu, cấp trên tin tưởng giao cho cán bộ, chiến sĩ tàu 524. Lúc đó, không riêng gì tôi (Trần Bạch) mà tất cả cán bộ, chiến sĩ tàu 524 đều cảm thấy vinh dự và tự hào.
Hôm Bác đi thăm đảo Tuần Châu xong, Bác trở về tàu 524, đồng chí Tư Tường bàn với anh em trên tàu là sẽ mời Bác, đồng chí Nguyễn Lương Bằng và các đồng chí cùng đi ở lại ăn cơm với cán bộ, chiến sĩ trên tàu. Sau khi anh Tư Tường báo cáo nguyện vọng của anh em với Bác, Bác vui vẻ nhận lời và bảo: để Bác xem các chú nấu ăn có giỏi không?
           Hôm đó tàu cử đồng chí Hiên là người khéo tay nhất làm bếp và trực tiếp nấu nướng. Tôi và các đồng chí cùng tham gia mỗi người một việc, từ vo gạo, nhặt rau... Ai nấy đều rất vui và chăm chú làm việc như muốn góp phần công sức của mình vào bữa ăn “chiêu đãi Bác”. Trong lúc anh em đang loay hoay nấu nướng thì Bác xuống bếp. Nhìn quanh một lượt, Bác khen bếp sạch, ngăn nắp. Bác đang xem ngăn để gia vị, hành tỏi, chợt quay lại bảo với Hiên:
- Chú nấu cơm khê rồi! Anh Tư Tường cũng quay lại. Hiên vội bớt lửa, rồi mở vung nồi ra kiểm tra. Khi đó anh em mới ngửi thấy mùi cơm khê. Anh Tư Tường và anh em trên tàu rất áy náy về việc nồi cơm bị khê. Tất cả không ai nói một lời và cảm thấy như mình có lỗi với Bác. Trong lúc mọi người chưa biết xử lý thế nào thì Bác bảo: Chắc các chú đói rồi, cơm hơi khê, không việc gì, ta ăn thôi.
Bác nói với giọng dịu dàng, khoan dung, làm xua tan đi nỗi băn khoăn, lo lắng của mọi người. Nghe theo lời Bác, mọi người vui vẻ cùng ngồi vào bàn ăn.
Lúc đó tôi không nghĩ mình được vinh dự ngồi ăn cơm với Bác. Khi nghe anh Tư Tường bảo: “Bạch lên cùng ăn cơm với Bác”, tôi xúc động không nói nên lời. Ngoài tôi ra còn có Trung sĩ Bùi Văn Đào là lính tín hiệu.
              Hôm ấy, danh nghĩa là tàu mời cơm Bác nhưng cũng chỉ có món thịt gà luộc, lòng gà xào miến và nước luộc gà nấu miến làm canh. Còn bàn ăn thì kê ngay ở mạn phải đuôi tàu. Bác ngồi ở phía ngoài, sát với cọc lan can. Nhìn Bác vui vẻ ăn, chúng tôi mới đỡ lo. Lúc đang ăn, Bác gọi xuống bếp: Thức ăn của ta đã nấu xong chưa hả chú? Đồng chí phục vụ trả lời: Thưa Bác xong rồi ạ! Mang lên đây góp cùng ăn với Hải quân. Đồng chí phục vụ Bác bê lên một đĩa bốn con cá rô phi rán. Nhìn đĩa cá, Bác bảo: ở giữa biển, Bác mời các chú ăn cá.
           Sau này chúng tôi được biết bốn con cá rô phi là của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh biếu Bác, Bác dành cho bữa ăn với anh em ở tàu. Suy ngẫm về câu nói của Bác mới hay, phải chăng Bác muốn nhắc nhở sống ở khu vực có biển phải biết giăng lưới, thả câu bắt cá để cải thiện bữa ăn cho bộ đội. Ấn tượng sâu sắc nhất đối với anh em trên tàu về bữa ăn hôm đó là khi sẻ thức ăn cho từng người, Bác bảo: Các chú ăn cơm với Bác hoặc ăn cơm phải ăn hết thức ăn, không được để thừa, thừa đổ đi thì lãng phí, để người khác ăn thừa của mình thì không được.
 
 
BÁC VỀ LÀNG GỐM
             Sau khi đi thăm công trình thủy nông Bắc Hưng Hải (tháng 2 năm 1959), lúc trở về Bác ghé thăm làng gốm sứ. Lúc bấy giờ đường Bát Tràng còn hẹp và lầy lội, Bác phải xắn quần đi bộ hơn một ki lô mét từ điếm canh trên đê vào đến làng.
              Những nơi, những gia đình mà uỷ ban dự định đưa Bác vào thăm thì Bác lại không vào. Thoạt đầu, Bác thăm nhà ông lang Xương. Cả nhà đang ăn cơm, thấy Bác vào nên lúng túng, mừng quá không biết ăn nói thế nào, Bác đến tận mâm cơm, nhấc vung nồi cơm lên và khen:
           - Cơm cô chú thổi ngon đấy.
          Rồi Bác hỏi tiếp:
           - Chú có đắt hàng không?
           Sau khi ông lang thưa “không đắt hàng lắm” Bác cười và nói vui:
           - Nghề của chú ế là tốt đấy.
          Bác khuyên ông lang nên đề tên ở ngoài ô kéo đựng các vị thuốc bằng chữ quốc ngữ đề phòng khi có người bệnh mà ông lang đi vắng, người nhà có thể bốc thuốc được.
         Khi thăm ngôi nhà mới dựng của bà con, Bác vào một nhà, nhưng gia đình đi vắng. Bác thăm vườn tược, bếp núc, rồi Bác khen đôi câu đối trên nhà khách là hay nhưng Bác nói thêm “treo ngược đấy, nhớ bảo gia đình này treo lại”.
         Thời gian thăm lâu nhất, Bác dành cho bà con xã viên. Bác vào tận lò, xem cách xếp bát, cách nung, cách nhúng men. Người nói với bà con “... phải cố gắng thi đua làm nhiều, nhanh, tốt, rẻ. Muốn thế, phải thực hiện quản lý dân chủ, cải tiến kỹ thuật, cải tiến dụng cụ, giảm giá thành...”. Dời hợp tác xã Bát Tràng, Người đi thăm tiếp một số nơi và nói chuyện với dân làng. Người khuyên bảo:
          “... Mọi người trong thôn xóm phải đoàn kết, giúp đỡ nhau. Phải giữ vệ sinh và phải đặt kế hoạch bổ túc văn hóa để khỏi trở lại mù chữ. Đường xá cần sạch sẽ, rộng rãi...
Làng Bát Tràng mới phải làm sao trở thành một trong những làng kiểu mẫu ở nước Việt Nam mới, nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
(Trích từ sách: Mỗi câu chuyện nhỏ - Một bài học lớn, Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Nxb CTQG, H.2010).