Mấy suy nghĩ về mối quan hệ cải tạo và nâng cấp hạ tầng kỹ thuật với việc bảo tồn Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

                                                               
  Ths. Đỗ Đức Huỳnh
Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
1. Các nhà khoa học về bảo tồn – bảo tàng sau nhiều năm nghiên cứu, tổng kết đánh giá trên nhiều lĩnh vực với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau đã đi đến kết luận rằng: Một di tích văn hóa (bao gồm cả bảo tàng và di tích, danh thắng) muốn tồn tại và phát triển, muốn thu hút được ngày càng đông đảo khách tham quan và đặc biệt là muốn trở thành một sản phẩm văn hóa đặc thù thì di sản đó phải đảm bảo được đầy đủ 4 yếu tố sau:
Một là: Tính nguyên gốc (hoặc là các sưu tập hiện vật gốc đối với bảo tàng) phải được bảo tồn nguyên vẹn hoặc phải chiếm được vai trò chủ yếu trong các trưng bày. Sự "đông đặc" của các yếu tố gốc, các thành phần gốc càng cao thì giá trị khoa học và tính hấp dẫn của di sản đó càng lớn. Như vậy chính các giá trị nguyên trạng hay nguyên gốc sẽ quyết định sự tồn tại hay phát triển của di sản đó.
Hai là: Việc trưng bày giới thiệu phải đảm bảo tính khoa học, đặc biệt là giá trị lịch sử và tính chân thực, phản ánh đúng cuộc sống và các mối quan hệ của di tích và hiện vật, đảm bảo tính logic cả về hình thức và nội dung, bao gồm cả giá trị nghiên cứu liên ngành. Đảm bảo tự thân các di tích và hiện vật cung cấp được thông tin cho các đối tượng muốn khai thác và tìm hiểu. Đồng thời với việc phải rất tôn trọng giá trị hiện thực và giá trị lịch sử, trong trưng bày giới thiệu về di tích và hiện vật phải tránh chủ nghĩa tự nhiên dễ dãi, phải tôn trọng giá trị nghệ thuật để nâng cao tính thẩm mỹ cho khách tham quan.
Ba là: Cần có hệ thống chỉ dẫn cụ thể, khoa học, dễ nhận biết; các bảng tóm tắt giới thiệu các di tích, hay hiện vật cần ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, sử dụng ngôn ngữ phổ thông và phục vụ cho số đông quần chúng. Đồng thời có một đội ngũ là các thuyết trình viên (Lecturer) có trình độ chuyên môn giỏi, có kinh nghiệm tổ chức và hướng dẫn, hiểu sâu sắc về các lĩnh vực mình hoạt động, có phương pháp thu hút khách tham quan và càng sử dụng được nhiều ngoại ngữ càng tốt.
Bốn là: Cần phải có một hệ thống kỹ thuật hạ tầng tốt, phù hợp, đồng bộ đảm bảo an toàn cho di tích, hiện vật đồng thời phục vụ tốt cho khách tham quan. Tạo ra môi trường thân thiện giữa di tích và khách tham quan, khách tham quan được phục vụ tận tình, chu đáo và đầy đủ. Về hệ thống hạ tầng kỹ thuật bao gồm hệ thống cấp điện, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống giao thông nội bộ, sân vườn, thảm cỏ cây xanh, ao hồ nếu có… Hệ thống báo cháy, chống cháy, các thiết bị an ninh, các trung tâm nghe nhìn phục vụ xem phim và khai thác tư liệu, đặc biệt là các ki ốt phục vụ giải khát, đồ ăn nhanh, đồ lưu niệm và hệ thống nhà vệ sinh công cộng.
Có thể nói trong 4 yếu tố kể trên thì yếu tố thứ 4 này là phức tạp và khó khăn nhất, bởi vì trước khi trở thành các di tích hay các hiện vật gốc thì các công trình đó chỉ là những công trình dân dụng, quân sự hay tự nhiên. Do vậy hệ thống kỹ thuật hạ tầng chỉ phục vụ cho nhu cầu tối thiểu ở đó và nhiều thiết bị, nhiều hạng mục trong hạ tầng kỹ thuật không có. Hiện nay thì cần phải có và phải tốt hơn để đáp ứng nhu cầu hoạt động của con người. Đây chính là mâu thuẫn rất khó giải quyết giữa bảo tồn và phát triển, giữa nguyên tắc nguyên trạng và mục tiêu đáp ứng các yêu cầu cần thiết của khách tham quan. Một vấn đề không kém phiền phức nữa chính là tốc độ quá nhanh của đô thị hóa và những tiến bộ vượt bậc của khoa học và công nghệ luôn luôn đòi hỏi phải được đưa vào cuộc sống và chính vì thế nó càng mâu thuẫn với nguyên tắc nguyên trạng và nguyên gốc của di tích và những vấn đề liên quan khác. Đây cũng chính là những vấn đề bức xúc, thậm chí là “nóng” trong quá trình thực hiện bảo tồn di tích, nhất là thực hiện nhiệm vụ cải tạo phát triển hạ tầng kỹ thuật của các di tích.
2. Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch (Khu Di tích Phủ Chủ tịch) vốn là Văn phòng Phủ Chủ tịch và trước nữa là Khu Phủ Toàn quyền Đông Dương. Các công trình hạ tầng được xây dựng đồng thời với các công trình kiến trúc (sau này là các di tích), công trình sớm nhất vào năm 1906 và công trình muộn nhất vào năm 1942. Đối chiếu với các bản thiết kế và quy hoạch còn lưu trữ được nhìn chung còn ổn định không có sự thay đổi gì đáng kể. Từ sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, tháng 12/1954 Chủ tịch Hồ Chí Minh về sống và làm việc tại đây cho đến khi Người từ trần vào ngày 02/9/1969. Trong suốt 15 năm đó, Phủ toàn quyền cũ được lưu giữ hầu như nguyên trạng, chỉ thêm mấy công trình nhỏ (“Nhà Hội đồng” nơi Bác chủ trì các phiên họp Chính phủ và “Nhà đón khách” nơi khách đến làm việc với Văn phong Phủ Chủ tịch) không làm phương hại gì đến các công trình vốn có. Rất tiếc cả hai công trình này đến nay không còn nữa. Trong khu A cũng có 2 công trình mới đó là Ngôi nhà sàn bằng gỗ được xây dựng vào năm 1958 và ngôi nhà phục vụ là nhà cấp 4, mái ngói (nay đã được thay bằng Hội trường chiếu phim phục vụ khách Quốc tế).
Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, Bộ Chính trị quyết định lấy toàn bộ khu vực này làm Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh bao gồm 3 khu: Khu A là khu vực Nhà sàn và các công trình phục vụ liên quan. Khu B là khu vực Văn phòng Phủ Chủ tịch đang làm việc và Khu C là khu Văn phòng Chính phủ đang làm việc. Sổ đỏ của Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay vẫn bao gồm cả 3 khu vực đó. Về nguyên tắc và nhất là theo Luật Di sản thì đây là khu vực bất khả xâm phạm nhưng rất tiếc nó lại luôn luôn bị biến động, biến dạng và thay đổi. Không kể những thay đổi có tính cục bộ thì ít nhất Khu Di tích đã có 4 lần chịu sự thay đổi có ảnh hưởng đến quy hoạch và trạng thái ban đầu. Lần thứ nhất vào năm 1973 khi quyết định xây Lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Di tích đã mất đi một diện tích khá lớn từ Đường Hùng Vương cũ qua Lễ đài Ba Đình, sân bóng, nhà Cảnh vệ, 4 ngôi nhà được xây từ những năm 1932-1938 và một phần vườn nhãn đến sát hầm tránh máy bay của Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Lần thứ 2 vào năm 1979 nhân 10 năm thực hiện Di chúc và thực hiện “Phong trào vườn cây, ao cá Bác Hồ”, khu vườn vốn là nơi Bác trồng rau và trồng cây đã được cải tạo mở rộng thay đổi chức năng thành vườn quả như hiện nay. Lần thứ 3 vào năm 1989 chuẩn bị cho 100 năm ngày sinh Bác Hồ và khánh thành Bảo tàng Hồ Chí Minh, một số con đường nội bộ và một số công trình kiến trúc đã được cải hóa để phục vụ cho nhiệm vụ chính trị theo yêu cầu lúc bấy giờ. Và lần thứ 4 là gần đây nhất là thực hiện dự án “Phát huy tổng thể giá trị của Khu Di tích Chủ Tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch” được tiến hành vào các năm 2008- 2010. Có thể nói 3 lần thay đổi trước hoàn toàn do yếu tố khách quan, do yêu cầu ngoài mong muốn cua Khu Di tích đã làm ảnh hưởng không chỉ quy hoạch chung mà cả trạng thái ban đầu của Khu Di tích. Việc khu A (Khu vực Nhà sàn) bị mất không gian chung và bị ép bởi các công trình mới, việc xuất hiện nhiều con đường cụt trong khu vực, việc hàng loạt các công trình mới được cộng thêm vào như nhà riêng của Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, kho K80, nhà để xe Văn phòng Phủ Chủ tịch và một loạt công trình khác của Văn phòng Chính phủ... đã chứng minh cho điều đó. Chỉ riêng lần thay đổi thứ 4 là chương trình của một dự án lớn có chủ định, có ý thức từ đầu, đáp ứng các yêu cầu bảo tồn và phục vụ khách tham quan của Khu Di tích. Dự án này đã động chạm đến hầu hết các hạng mục thuộc hạ tầng kỹ thuật của Khu Di tích từ điện chiếu sáng, hệ thống thoát nước, đường nội bộ, sân vườn và thảm cỏ, hệ thống phòng cháy, hệ thống an ninh, hệ thống dịch vụ phục vụ khách tham quan…Việc kiểm soát chặt chẽ dự án với nguyên tắc tính nguyên trạng phải được tôn trọng cùng với việc lựa chọn giải pháp thích hợp đã giúp hạn chế tới mức cao nhất sự tác động tiêu cực đối với di tích và các thành phần liên quan đến các di tích. Dự án hoàn thành và đưa vào sử dụng được 5 năm, chưa đạt 100% so với mong muốn nhưng đã đạt được những kết quả quan trọng như thực hiện được nhiều hạng mục nhưng không làm thay đổi quy hoạch và không làm biến dạng trạng thái ban đầu của di tích. Dự án có tiến hành tu bổ và cải tạo 1 số di tích nhưng vẫn giữ được trạng thái gốc và đồng thời đáp ứng được yêu cầu của công tác bảo tồn và các hoạt động của di tích. Ví dụ như hệ thống thoát nước của Khu Di tích vốn là vấn đề nhức nhối nhiều năm, hễ mưa là ngập làm ảnh hưởng lớn đến việc bảo quản các Nhà di tích, sân vườn, ao cá. Việc cải tạo hệ thống thoát nước là không thể không làm trong điều kiện hệ thống thoát nước cũ hầu như không còn tác dụng. Việc bổ xung một số đường thoát nước mới và trạm bơm tự động là hoàn toàn mới, nhưng không hề ảnh hưởng đến tính nguyên trạng  và cảnh quan Khu di tích. Một ví dụ khác là việc xây dựng bổ xung 3 nhà vệ sinh công cộng phục vụ khách với số lượng hàng vạn lượt người/ngày là một vấn đề gây bức xúc hàng chục năm của Khu Di tích, nhiều phương án cải tạo chắp vá đều không thành công, chỉ đến khi thực hiện dự án đưa các nhà vệ sinh xuống lòng đất là phương án hiệu quả, vừa đảm bảo được quy mô của công trình theo yêu cầu phục vụ khách, vừa không làm ảnh hưởng đến cảnh quan, môi trường chung của Khu Di tích. Có thể nói dự án đã tác động trực tiếp đến Di tích nhưng không làm ảnh hưởng và gây các tác động tiêu cực cho Khu Di tích.
3. Khu Di tích Phủ Chủ tịch đã trải qua 46 năm hoạt động. Thời gian tuy chưa phải là dài nhưng cũng đủ để rút ra những bài học cần thiết, đặc biệt là việc giải quyết hợp lý yêu cầu bảo tồn di tích với đòi hỏi cải tạo và phát triển, nhất là đối với các hạng mục hạ tầng kỹ thuật gắn liền. Tiếp cận ở góc độ này chúng tôi xin nêu một vài đề xuất sau đây:
Một là: trong bất kỳ hoàn cảnh nào, điều kiện nào cũng phải tuyệt đối tôn trọng các giá trị nguyên gốc hay tính nguyên trạng của Di tích hay Khu Di tích nói chung. Bởi vì tính nguyên gốc của di tích là sự đảm bảo duy nhất các giá trị khoa học của chính di tích đó. Đồng thời đó còn là cơ sở quan trọng để tìm hiểu nghiên cứu, phục dựng lại môi trường sống – môi trường lịch sử hay còn có thể gọi là đời sống xã hội của di tích  hay cụm di tích. Mặt khác sự nguyên trạng của di tích sẽ là cơ sở để các ngành khoa học khác nghiên cứu và tham chiếu phục vụ cho các lĩnh vực khoa học liên ngành. Và lấy đó làm cơ sở cho công tác bảo tồn và phát triển Chúng ta có quyền tin vào tương lai và lo lắng cho tương lai. Vì vậy, Khu Di tích Phủ Chủ tịch cần có một chương trình sưu tầm lại toàn bộ hồ sơ Di tích qua các thời kỳ, từ khi còn là Phủ toàn quyền, đến khi là Văn phòng Chủ tịch nước và Văn phòng Chính phủ và ngay cả biến động khi khu vực này đã trở thành Khu Di tích quốc gia đặc biệt. Chỉ như vậy chúng ta mới nắm chắc được những biến đổi của Khu Di tích và của mỗi di tích qua các thời kỳ. Đặc biệt là thời kỳ di tích chịu tác động quá lớn của tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa. Và cũng chỉ như thế chúng ta mới thực hiện tốt công tác quản lý Khu Di tích trong giai đoạn hiện tại và định hướng cho việc khôi phục lại một số di tích quan trọng đã bị phá đi hoặc đã bị cải tạo thay đổi mục đích sử dụng. Đây là công việc tưởng rằng viển vông nhưng sẽ đến lúc sẽ hối tiếc vì nhân chứng lịch sử mất dần, nguồn "nhân chứng" duy nhất còn lại chính là hồ sơ di tích mà thôi.
Hai là: Cần chấn chỉnh và đưa vào nguyên tắc tất cả các hoạt động tu bổ, sửa chữa cải tạo hoặc nâng cấp các hạng mục các di tích hay Khu Di tích. Vì chính các hoạt động này dễ làm tổn thương đến di tích, dễ làm cho di tích hoặc các thành phần của di tích bị tác động thay đổi biến dạng hoặc mất đi tính nguyên trạng hay các giá trị gốc của di tích. Chúng ta đều biết công việc bảo tồn là công việc thường xuyên, công tác tu bổ, bảo quản cải tạo là bất khả kháng. Vấn đề đặt ra chính là tính nguyên tắc, thái độ chấp hành luật pháp, sự hiểu biết khoa học và sự tôn trọng đối với di tích. Chúng ta không thể chấp nhận sự dễ dãi, thái độ bất chấp các quy định và những tiêu chuẩn, yêu cầu khoa học, bởi vì chính thái độ vô cảm với di tích sẽ giết chết di tích.
Ba là: Việc quy hoạch Khu Di tích hay mỗi di tích cần được tính toán rất kỹ lưỡng để vừa đảm bảo nguyên tắc bảo tồn di tích, đồng thời cũng phải có đủ các điều kiện cho di tích hoạt động. Việc phân chia di tích hay Khu Di tích thành các khu vực (3 khu vực) như khu vực bất khả xâm phạm, khu vực quản lý và khu vực bảo vệ xem ra chưa hiệu quả lắm vì trên thực tế như Khu Di tích Phủ Chủ tịch ở cả 3 khu (A,B,C) đều có những di tích quan trọng, thậm chí rất quan trọng cần được bảo tồn nguyên vẹn, không được cải tạo, thay đổi nhưng chúng ta đã không làm được như thế. Theo chúng tôi cần chặt chẽ hơn nhưng cũng mềm dẻo hơn khi tiến hành quy hoạch, cụ thể là mỗi di tích cần có khu vực đệm (khu vực chuyển tiếp chức năng) và khu di tích cần thiết phải có vành đai an toàn, giãn cách để phục vụ cho sự phát triển và các công trình mới phụ trợ cho hoạt động của di tích và Khu Di tích.
Trong thời kỳ phát triển hiện nay, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đang thách thức công tác bảo tồn các di tích và danh thắng. Nếu chúng ta không vững vàng tuân thủ luật pháp và các nguyên tắc, không thực hiện tôn trọng khoa học, không biết gìn giữ các giá trị văn hóa cho muôn đời con cháu chúng ta, thì việc các di tích bị tác động tiêu cực làm biến dạng, thay đổi, thậm chí là “mất tích” trước những Dự án bảo tồn tôn tạo đang diễn ra một cách ồ ạt như hiện nay.