Chủ tịch Hồ Chí Minh với tù binh Pháp

 
Chu Thị Ngọc Lan
Bảo tàng Hồ Chí Minh
 
 Trước và trong suốt quá trình lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn kiên trì tìm kiếm khả năng cứu vãn hòa bình và luôn chủ trương giải quyết cuộc chiến tranh bằng thương lượng hòa bình trong điều kiện có thể. Người đã nhiều lần chính thức gửi thư kêu gọi Chính phủ, Quốc hội và nhân dân Pháp hãy tìm mọi cách để chấm dứt cuộc chiến tranh phi nghĩa này. Trong nhiều bài viết, điện thư gửi các nước đồng minh và bài trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rõ thiện chí hòa bình của Việt Nam và kêu gọi các tổ chức, các lực lượng hòa bình thế giới có hành động thiết thực để sớm kết thúc “cuộc chiến tranh bẩn thỉu” do thực dân Pháp gây ra ở Đông Dương. Khi dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp buộc dân tộc Việt Nam phải cầm súng đứng lên tự vệ bảo vệ nền độc lập non trẻ của nước nhà, thì không tránh khỏi những mất mát, hy sinh, tang tóc điêu tàn cho cả nước Việt Nam và cả nước Pháp. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trước lòng bác ái thì máu Pháp hay máu Việt đều là máu, người Pháp hay người Việt đều là người”, nên Người đã tìm mọi cách để hạn chế tới mức thấp nhất những thương vong trên chiến trường cho quân ta và cho cả quân địch. Đối với tù binh, hàng binh Phápbị bắt trong chiến tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kêu gọi đồng bào và chiến sĩ phải nêu cao tinh thần chính nghĩa, nhân đạo theo truyền thống của cha ông: “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo”, đối xử khoan hồng đối với họ.
 
Tù binh và hàng binh chiến tranh trên chiến trường Việt Nam không chỉ có lính Pháp mà còn có lính Lê dương và lính da đen. Theo Báo Cứu quốc, số 1690, ngày 15/11/1950: “Chủ lực của đội quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương gồm có hơn 13 vạn: hơn 5 vạn lính Pháp, 3 vạn lính lê dương, gần 5 vạn lính da đen (Maroocs, Angeri, Tynidi, Xênegan) - phần đông họ là bần cố nông, nông dân, tiểu tư sản nghèo vì thất nghiệp nên tình nguyện vào lính để kiếm ăn.
 
Bản thân họ không có thù oán với nhân dân Việt Nam, bị đưa sang Việt Nam làm công việc chém giết tàn bạo và nguy hiểm đã 5 năm, họ chán ghét chiến tranh đến cực điểm”1.
 
Ngay từ năm đầu cuộc chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở người dân và các chiến sĩ trong lực lượng vũ trang rằng trong các “kỷ luật chiến tranh” có kỷ luật cấm giết hại và ngược đãi tù binh. Báo Cứu quốc, số 1690, ngày 15/11/1950 đã đăng tải bài: “Tóm tắt chính sách của ta đối với lính Pháp, lính lê dương, lính Phi” như sau:
1. Ưu đãi hàng binh, tù binh
 2.Hồi hương hàng binh
 3.Trọng dụng những người giúp việc học chiến đấu cho Việt Nam
 4. Bắt tay với tất cả những người và những tổ chức ham muốn hoà bình dân chủ trong hàng ngũ Pháp muốn cùng ta chiến đấu chống thực dân Pháp.
 Khẩu hiệu chính để vận động binh lính Pháp
  • Không ký thêm hợp đồng tòng ngũ.
  • Phản đối ra trận.
  • Đòi hồi hương” 2
Ngày 30/3/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Quyết định thả 200 tù binh Bắc Phi bị bắt trên các chiến trường Việt Nam để thể hiện thiện chí của nhân dân Việt Nam đối với các nước thuộc địa của Pháp. Nhân dịp lễ Nôen năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Quyết định phóng thích cho gần 300 tù binh Pháp. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, hàng vạn tên địch đã bị bắt sống, trong đó có hàng nghìn thương binh và bệnh binh. Mặc dù điều kiện chiến trường vô cùng thiếu thốn nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho Bộ Tài chính cấp cho mỗi người lính hay thường dân Pháp bị bắt 200 đồng/tháng, trong khi đó mức ăn của bộ đội Việt Nam chỉ có 150 đồng/tháng. Tù binh bị thương đã được chăm sóc, điều trị tận tình, còn tù binh và hàng binh cũng được nuôi dưỡng chu đáo. Các cán bộ quản lý tuyên truyền giải thích cho họ chính sách khoan hồng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam, giúp họ trút bỏ nỗi lo âu và hoảng sợ.
Bảo tàng Hồ Chí Minh hiện lưu giữ một số bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi nhân dân Pháp, Hội những người hồi hương từ Đông Dương, thư gửi tù binh, hàng binh Pháp nhân dịp Nôen, năm mới và thư của các tù binh, hàng binh, những người đã hồi hương gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc thọ hay bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với Người và Chính phủ Việt Nam.
 1. Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
 Từ năm 1946 đến năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 03 lần gửi thư chúc mừng Nôel các tù binh, hàng binh và những người hồi hương Pháp vào các năm 1946, 1950 và 1951.
Nhân dịp Nôen năm 1946, chỉ sau 5 ngày chiến tranh nổ ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Thư gửi các tù binh Pháp, ngày 24/12/19463. Trong đó, Người coi họ như là những người bạn và bày tỏ sự thông cảm trước cảnh ngộ hiện nay của họ. Họ cũng là nạn nhân của một cuộc chiến tranh xâm lược do bọn thực dân Pháp phản động gây ra vì quyền lợi ích kỷ của chúng. Người mong một ngày gần đây, nhân dân hai nước Pháp và Việt Nam sẽ có thể cùng nhau hơp tác trong hòa bình và thân ái để mưu cầu hạnh phúc chung cho cả hai dân tộc. Cuối thư viết: “Trong khi chờ đợi, các bạn hãy yên lòng và sống dưới sự che chở của chúng tôi, cho đến khi hết chiến tranh, khi đó các bạn sẽ được tự do”.
4 năm sau, nhân dịp Nôen năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Thư gửi tù binh Pháp, ngày 24/12/19504. Thư đánh máy tiếng Pháp, trong đó tiêu đề “Gởi tù binh Pháp” bằng tiếng Việt. Cuối thư ở lề dưới của tài liệu có bút tích viết tay bằng bút máy mực đen có đoạn “…sao đưa đánh máy in và phát cho tù binh cho kịp ngày. Dặn Ban phụ trách cho tù binh ăn tết …”. Chủ tịch Hồ 
Chí Minh chúc các tù binh một lễ Nôen và năm mới tốt đẹp và Người nhấn mạnh: “Nhân dân và Quân đội Việt Nam không bao giờ coi các bạn là kẻ thù và cho rằng các bạn không phải chịu trách nhiệm cho cuộc chiến tranh đế quốc này.
Hôm nay, chúng tôi coi các bạn như những người bạn và sẽ làm hết khả năng để cuộc sống của các bạn dễ chịu hơn”.
 Thư gửi các tù binh và hàng binh Âu Phi nhân dịp Nôen, ngày 24/12/19515. Bản dự thảo đánh máy, tiếng Pháp, 1 trang, có bút tích ghi bằng bút chì đỏ: “Phải chờ ít hôm để dịch nội dung của thư”. Mở đầu thư Người viết: “Tôi gửi lời chúc các bạn một lễ Nôen vui vẻ. Tôi đã chỉ thị cho các cấp có trách nhiệm cố gắng làm giảm bớt trong dịp lễ này những sự thiếu thốn mà các bạn chia sẻ với nhân dân Việt Nam đương kháng chiến.
 Cũng chỉ tại bọn thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ngoan cố kéo dài cuộc chiến trah xâm lược Việt Nam, mà một lần nữa ngày Chúa giáng sinh các bạn phải sống trong cảnh xa gia đình, xa quê hương”6.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ nguyện vọng của nhân dân Việt Nam mong muốn hòa bình mau trở lại để các tù binh chóng được trả về xứ sở, xây dựng lại cuộc đời và kêu gọi các tù binh, hàng binh trong khi chờ đợi hãy kiên tâm, hãy giữ gìn kỷ luật, nỗ lực làm việc, và tin tưởng vào chiến thắng của những lực lượng hòa bình thế giới.
Ngoài những bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi trực tiếp các tù binh, hàng binh Pháp nêu trên, Người còn gửi một loạt điện và thư tới các tổ chức, cá nhân khác đề cập tới chính sách khoan hồng của ta đối với các tù nhân, hàng binh và các vấn đề liên quan tới vấn đề hồi hương của họ.
Nhân dịp nhà báo Lêô Phighe, đại diện Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, sang thăm Việt Nam trở về Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Thư gửi các bà mẹ và vợ Pháp có con và chồng chết trận ở Việt Nam, ngày 14/11/19507. Trong thư Người bày tỏ lòng biết ơn đối với những bà mẹ vợ đã hăng hái đấu tranh đòi hồi hương đạo quân viễn chinh và chấm dứt cuộc chiến tranh đầy tội ác này và nêu nên rằng một số lớn binh lính, hạ sĩ quan Pháp đã bỏ mình trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam thì chỉ một số rất ít thi hài được chở về cho gia đình họ, còn phần lớn đã bị san phẳng mồ mả để che dấu những thất bại to lớn của quân đội Pháp. Tuy nhiên:
 “Còn những nấm mồ nào thoát khỏi hành vi tàn bạo ấy, chúng tội tự coi có bổn phận thiêng liêng phải giữ gìn nguyên vẹn để sau này, khi chiến tranh chấm dứt, các bà có thể mang hài cốt của chồng con mình về quê cha đất tổ. Như thế, chúng tôi mong rằng có thể làm dịu nhiều những nỗi đau khổ của các bà”.
Được tin một số đông binh sĩ Pháp ở Đông Dương về nước đã thành lập một tổ chức để bảo vệ quyền lợi của mình, đòi hồi hương các bạn đồng ngũ của mình đang bị bắt buộc hy sinh xương máu, tính mạng để tiếp tục cuộc chiến tranh ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Thư gửi những người bạn Pháp, ngày 15/11/1950 8. Trong thư có đoạn viết:
Các bạn là những người hiểu rõ hơn ai hết tính chất cuộc chiến tranh đó. Các bạn đã biết rõ những thủ đoạn tàn bạo của thực dân Pháp đối với đồng bào chúng tôi. Các bạn 
cũng nhận thấy nhân dân Việt Nam đã chiến đấu vô cùng anh dũng để giành độc lập và thống nhất cho Tổ quốc họ.
Nhân dân Việt Nam rất biết ơn sự cố gắng của các bạn cũng như đã biết ơn sự cố gắng của những bà mẹ và những người lao động Pháp. Nhìn vào hành động của các bạn, nhân dân Việt Nam thấy rằng mình có hàng triệu người bạn trung thành ở ngay nước Pháp. Họ đã không bao giờ nhầm lẫn bọn đế quốc Pháp với nhân dân Pháp mà họ muốn thắt chặt mãi thêm mối dây thân hữu
Thư gửi ông Tổng thư ký Hội những người hồi hương từ Đông Dương, ngày 14/7/19519, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tôi đã nhận được thư đề ngày 12/4/1951 của ông. Vấn đề hồi hương tù binh Pháp, châu Phi luôn luôn được chúng tôi dự kiến một cách thuận lợi. Chúng tôi làm hết sức mình để những người con của công nhân và nông dân, cũng như nạn nhân của bọn gây chiến tranh đế quốc, được trở về với gia đình. Chúng tôi thực hiện điều đó mỗi khi điều kiện an ninh về quân sự và tổ chức vật chất cho phép.
Tôi vui mừng được biết dưới  sự  lãnh đạo dũng cảm của các bạn, những người hồi hương từ Đông Dương, nhận thức được sự thật, đã kiên quyết đấu tranh chống cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn đó”
Đáp lại bức thư ngày 5/5/1951 của Hội liên hiệp phụ nữ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Thư gửi Ban lãnh đạo Hội liên hiệp phụ nữ Pháp, tháng 7/195110. Trong đó có đoạn viết: “Tôi vui mừng thông báo các bạn rằng, đáp lại mong muốn của các bạn, chúng tôi đã phóng thích nhiều đoàn tù binh Pháp - những tù binh khác sẽ được phóng thích tiếp, khi những điều kiện về an ninh quân sự và tổ chức vật chất cho phép.
Các bạn hãy tin vào tình hữu nghị chiến đấu của nhân dân Việt Nam đối với nhân dân Pháp. Nhân dân Việt Nam thông cảm với sự lo âu và hy vọng của các bà mẹ và người vợ ở Pháp, những người mà kẻ thù chung của chúng ta đã cướp đi con cái và chồng con của họ bị đẩy vào lò mổ của cuộc chiến tranh tái chiếm đóng đầy tội ác và không lối thoát.
2. Thư của các tù binh, hàng binh và những người hồi hương Pháp gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trong khối tài liệu điện thư nước ngoài gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh có một số bức thư của các tù binh, hàng binh và những người hồi hương Pháp gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh. 
  • Thư của Bác sĩ A Huy, đại biểu Hồng thập tự Pháp gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 20/12/1950 đăng trên báo Cứu quốc, số 1686, ngày 10/11/195011. Trong thư bác sĩ A Huy đã cảm ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam đã đối xử tốt với tù binh chiến tranh: “Tôi biết rằng các gia đình và bạn hữu của những tù binh hiện còn bị giam giữ có thể tin cậy vào lòng tốt của Chủ tịch và tôi xin Chủ tịch hãy nhận ở đây những lời chúc mừng rất thành kính của tôi”. 
  • Thư của tù binh Pháp gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh xin hồi hương, ngày 2/12/195012. Bản viết tay, tiếng Pháp có bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh. 
  • Thư của Tổng thư ký Hội những người hồi hương và gia đình các nạn nhân Pháp gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 12/4/195113.
Bản đánh máy tiếng Pháp, 1 trang. Trong thư bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam đã làm tất cả để đưa các tù binh, hàng binh này trở về với gia đình, quê hương và nói nên cảm tưởng của họ là ngay từ những ngày đầu bị bắt họ đã được đối xử rất đúng mực trái ngược hẳn với những gì họ nghĩ và họ chính là bằng chứng về những tình cảm thân thiện sâu sắc mà nhân dân Việt Nam dành cho nhân dân Pháp. Họ quyết định ngay khi trở về Pháp họ sẽ đấu tranh cùng những người lao động và nhân dân Pháp để sớm chấm dứt cuộc chiến tranh tàn ác và đẫm máu diễn ra từ 5 năm nay.
  • Thư của hàng binh Albert Clavier gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 15/5/195114. Bản đánh máy, tiếng Pháp, 1 trang. Có bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi: “Đăng báo” và “Trả lời”. Hàng binh A. Clavier gửi thư chúc thọ Chủ tịch Hồ Chí Minh 61 tuổi, chúc Người sức khỏe, hạnh phúc và thành công. Ông xin gửi tặng 150.000 đồng cho Chính phủ Việt Nam và hứa với Chủ tịch làm việc, học tập, nghiên cứu và sản xuất nhiều gấp đôi. 
Tháng 5 năm 1951, chính tay Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh máy thư gửi cho ông với lời lẽ thân mật là cám ơn những lời cháu đã chúc Bác nhân dịp sinh nhật và vì đóng góp của cháu vào phong trào mua công trái của chúng tôi. Chúc cháu đạt nhiều kết quả trong công việc, trong học tập cũng như  trong việc thi đua trồng rau xanh. Cuối thư ký tên: BÁC HỒ15. 
  • Thư của các tù binh gửi chúc thọ Chủ tịch Hồ Chí Minh 64 tuổi, ngày 19/5/195416. Bản viết tay bằng bút máy mực tím, tiếng Đức, 1 trang, cuối thư có ghi tên và chữ ký của 9 cá nhân.
- Thư của tù binh Lemire Victor, trại số 1 gửi chúc thọ lần thứ 64 Chủ tịch Hồ Chí Minh.17 Viết tay bằng bút máy mực tím, tiếng Pháp, 2 trang trên 1 tờ có dòng kẻ.
 
-Thư của 85 hàng binh đoàn hồi hương thứ 5 “Hòa bình ở Đông Dương” gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Việt Nam, ngày 18/7/1954 18. Bản đánh máy, tiếng Việt, 2 trang trên giấy pơluya. Với lời lẽ chân thành, các hàng tù binh hồi hương đã bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam và nêu 04 lời hứa sẽ thực hiện khi về nước để đền đáp công lao lớn lao của Chủ tịch, quân đội, Chính phủ Việt Nam đã cứu sống, nuôi dưỡng, xây dựng họ được như ngày nay. Trong thư có đoạn: “Chúng tôi rất làm vui sướng và cảm động được Chủ tịch và Chính phủ cho chúng tôi trở về đất nước với gia đình. Chúng tôi rất buồn vì từ nay phải xa cách Việt Nam và chúng tôi vinh dự nói lên là Tổ quốc thứ hai của chúng tôi. Chúng tôi xin đồng thanh nói lên lòng chân thành biết ơn Chủ tịch, Chính phủ, Đảng Lao động Việt Nam, các cán bộ và chiến sĩ, nhân dân Việt Nam đã tốn bao công của nuôi dưỡng, giáo dục chúng tôi thành người và ngày hôm nay lại cho chúng tôi trở về sum họp với cha mẹ, vợ con, anh em thân thích. Khác với hồi còn ở trong hàng ngũ Pháp, nó bịt mắt bưng tai, chúng tôi, nay trở thành những người mới, biết yêu chuộng lẽ phải, biết yêu hòa bình, yêu lao động, ghét chiến tranh, biết căm thù đế quốc gây chiến”
- Thư chúc mừng Nôel hòa bình năm 1956 của công nhân Âu Phi làm việc tại mỏ Apatít Lào Cai 19. Bản viết tay bút máy 
mực xanh, tiếng Pháp trên giấy có dòng kẻ xanh, do đại diện Simon ký tên. Cuối thư có bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng bút bi đỏ: “ - Gửi chung công trường Apatite Laokay một thiếp chúc mừng năm mới. - Gửi anh Simon và anh em công nhân Âu Phi mỏ Apatite Laokay một thiếp”.
Họ là những người tù hay hàng binh châu Âu và châu Phi đã tình nguyện ở lại Việt Nam tham gia vào công cuộc kiến thiết đất nước sau chiến tranh, họ trở thành công nhân của nước Việt Nam tự do. Nhân dịp Nôel 1956 họ đã gửi quan hệ Việt - Pháp ngày càng tốt đẹp đó là nhờ sự đóng góp bởi một phần không nhỏ lòng khoan dung, vị tha của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với tù binh, hàng binh Pháp - những người bại trận trong quá khứ. Hơn nữa tình thần đó đã được nhân dân ta vận dụng, tiếp nối trong cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược. Tù binh và hàng binh Mỹ đã được đối xử nhân đạo, được trao trả tự do về đoàn tụ với gia đình, nhiều người trong số họ sau này đã trở thành những sứ giả hoà bình, bắc nhịp cầu đoàn kết giữa hai dân tộc. thư chúc mừng và chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn mạnh khỏe, sống lâu. Họ biết rằng tuy xa cách người thân yêu của mình hàng nghìn cây số, nhưng họ rất vui mừng nhận thấy Bác Hồ và Đảng Lao động Việt Nam luôn nghĩ đến hạnh phúc của họ và động viên họ cố gắng lao động sản xuất. Thư có đoạn:
Nhưng là người châu Âu và châu Phi, những nguời cháu của Bác, nhân dịp Nôel 1956, xin hứa sẽ hết sức cố gắng đóng góp vào sự khôi phục Tổ quốc đỡ đầu của chúng tôi, bảo vệ hòa bình thế giới, thống nhất nước Việt Nam và thiết lập dân chủ trên trái đất ”.
Trên đây, chúng tôi đã điểm qua một cách tương đối đầy đủ những tài liệu liên quan tới vấn đề tù binh, hàng binh và những người hồi hương hiện lưu giữ ở Bảo tàng Hồ Chí Minh. Qua đó giúp chúng ta hiểu rõ hơn sự bao dung, nhân ái cũng như sự cảm hoá sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với những tù binh, hàng binh Pháp. Với chính sách khoan hồng của Chính phủ Hồ Chí Minh đối với tù binh thì dường như sự giam giữ họ không phải là sự trừng phạt mà là cơ hội cho họ biến cải trở thành những chiến sĩ hoà bình. Thời gian trôi đi, lịch sử đã sang trang mới, mối

Chú thích:
  1. Tài liệu lưu kho Tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh.
  2. Tài liệu lưu kho Tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh.
  3. Lời Hồ Chủ tịch, Nha Thông tin Việt Nam, 1948, tr. 14. Sách lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, 2011, T4, tr.542.
  4. Tài liệu lưu kho Cơ sở Bảo tàng Hồ Chí Minh. Ký hiệu:ST. 301. Trưng bày trên đai Chủ đề VI.
  5. Tài liệu lưu khoTư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh. Ký hiệu: H11C7/23.
  6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, 2011, T6, tr.516. (theo Bản tiếng Việt là bản dịch của tài liệu này nhưng lại ghi nhầm là viết tháng 12/1950)
  7. Tài liệu lưu khoTư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, 2011, T6, tr.469.
  8. Tài liệu lưu kho Tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh.Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, 2011, T6, tr.471.
  9. Tài liệu lưu khoTư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, 2011, T7, tr.117.
  1. Tài liệu lưu khoTư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, 2011, T7, tr.143.
  2. Tài liệu lưu kho Tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh.
  1. Tài liệu lưu kho Tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh. Ký hiệu: H15C04/08.
  2. Tài liệu lưu tại Kho cơ sở Bảo tàng Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư trả lời ngày 14/7/1951 nêu ở phần 1 bài viết.
  3. Tài liệu lưu tại Kho tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh. Ký hiệu: H15C5/01.
  4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, 2011, T7, tr.94.
  5. Tài liệu lưu tại kho Cơ sở Bảo tàng Hồ Chí Minh. Ký hiệu: 3P. 1/1954.
  6. Tài liệu lưu tại kho Cơ sở Bảo tàng Hồ Chí Minh. Ký hiệu: 3P. 2/1954
  7. Tài liệu lưu tại kho Cơ sở Bảo tàng Hồ Chí Minh. Ký hiệu: 3P. 3/1954
  8. Tài liệu lưu tại kho Cơ sở Bảo tàng Hồ Chí Minh. Ký hiệu: 4P. 18/1955.