Tính thời sự của tác phấm "Sửa đổi lối làm việc"

ThS. Nguyễn Thị Bình
Phòng Sưu tầm - Kiểm kê - Tư liệu
Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đời cách đây 70 năm nhưng vẫn còn giữ nguyên giá trị, luôn là bảo bối “gối đầu giường” của cán bộ, đảng viên trong sự nghiệp đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa hôm nay. Nội dung của tác phẩm vẫn là những lời chỉ huấn cơ bản và thời sự đối với Đảng, Nhà nước ta; đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên trong rèn luyện và phấn đấu. Những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh dự liệu và nhấn mạnh phải “sửa đổi” trong “Sửa đổi lối làm việc” vẫn vẹn nguyên giá trị. Đặc biệt, những vấn đề lớn của công tác xây dựng Đảng mà Người nêu ra trong tác phẩm đã được Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI và khóa XII của Đảng kế thừa, bổ sung và phát triển phù hợp với điều kiện thực tế, đồng thời được cụ thể hóa trong giải pháp nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. 
Đặt vào bối cảnh ra đời tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” mới thấy ý nghĩa cơ bản, sâu sắc cũng như tính thời sự và cả tính lâu dài, liên tục của nó. Tháng 10-1947, giữa những ngày Việt Bắc đang cùng đồng bào và chiến sĩ cả nước tập trung đánh bại cuộc hành quân chiến lược của thực dân Pháp hòng tiêu diệt “cơ quan đầu não” của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa; khi vận mệnh dân tộc ở vào thời khắc cam go nhất, đòi hỏi phải có sự đoàn kết, thống nhất của một đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh, với một đội ngũ cán bộ, đảng viên gương mẫu về đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, thì những trăn trở, những cảnh báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tổ chức, lề lối làm việc và những khuyết điểm, sai lầm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tổ chức bộ máy của Đảng và Chính phủ từng được chỉ rõ trong Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng (tháng 10-1945), Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ (tháng 3-1947), Thư gửi các đồng chí Trung Bộ (năm 1947),... vẫn chưa được thực hiện triệt để. Dù bộn bề công việc,song trong tư tưởng của Người, xây dựng và chỉnh đốn Đảng luôn là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn, quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”. Khi ấy, Người đang ở thôn Điềm Mặc, xã Thanh Định, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. 
“Sửa đổi lối làm việc” đề cập đến 6 nội dung lớn, vừa có tính lý luận, vừa có tính chỉ đạo thực tiễn về công tác xây dựng Đảng: Phê bình và sửa chữa; Mấy điều kinh nghiệm; Tư cách và đạo đức cách mạng; Vấn đề cán bộ; Cách lãnh đạo; Chống thói ba hoa. Đưa ra 6 vấn đề lớn về công tác xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những nguy cơ thoái hóa, biến chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên và tác hại của nó đối với đảng cầm quyền; chỉ rõ nhiệm vụ vừa có tính cấp bách, vừa có tính thường xuyên, lâu dài là phải sửa đổi lối làm việc để chỉnh đốn lại Đảng. Từ đó, có thể thấy, một số vấn đề quan trọng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói đến trong tác phẩm này: 
Về nâng cao hiểu biết cả về lý luận và thực tiễn; về mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sáng một mắt mờ”, và “Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế... Dù xem được hàng vạn quyển lý luận nếu không biết đem ra thực hành thì khác nào một cái hòm đựng sách”. Người cán bộ phải ra sức học tập lý luận, đồng thời luôn luôn biết tổng kết kinh nghiệm trong công tác. Phê bình vàtổng kết kinh nghiệm công tác là quy luật tiến bộ trong sự nghiệp cách mạng. 
Về quyết định của cán bộ và công tác cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Riêng với người cán bộ lãnh đạo, Người chỉ rõ: “Người lãnh đạo đúng đắn cần phải: khi thất bại không hoang mang, khi thắng lợi không kiêu ngạo. Khi thi hành các nghị quyết kiên quyết, gan góc không sợ khó khăn”, và “Ai sợ phụ trách và không có sáng kiến thì không phải người lãnh đạo”. 
Về đạo đức cách mạng trong người cán bộ, trong sự nghiệp vận động nhân dân làm cách mạng, trong sự nghiệp tổ chức và lãnh đạo của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. 
Về phong cách, phương pháp lãnh đạo của cán bộ, đảng viên, của các  tổ chức đảng, nhìn rộng ra là cách lãnh đạo, mà trong ngôn từ hiện đại thường nói là phương thức lãnh đạo của Đảng - một vấn đề to lớn và hệ trọng được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) quan tâm và ra nghị quyết, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Bất cứ công việc gì, cũng phải dùng hai cách lãnh đạo sau đây: Một là liên hợp chính sách chung với sự chỉ đạo riêng. Hai là liên hợp người lãnh đạo với quần chúng”.
Về phương pháp tuyên truyền vận động quần chúng, trước hết là nói, viết sao cho có hiệu quả, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cả một phần đáng kể của tác phẩm cho cán bộ đảng nói chung và cán bộ tuyên huấn nói riêng. 
Như vậy, rõ ràng là những vấn đề, những khía cạnh nêu trên của tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” đều nhất quán theo một chủ đề là “xây dựng, chỉnh đốn Đảng”- cụm từ được Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng nhiều lần trong tác phẩm. Trong “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ vạch ra những sai lầm, khuyết điểm, lệch lạc trong nhận thức, tư tưởng, trong phẩm chất đạo đức, lối sống và năng lực công tác của cán bộ, đảng viên, mà còn tập trung nêu rõ những biện pháp cần thiết để chữa trị. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, những khuyết điểm đó sẽ được khắc phục bằng “phê bình và sửa chữa”. 
Đối chiếu với thực tiễn các thời kỳ cách mạng của nước ta, có thể nhận thấy nội dung của tác phẩm vượt xa tên gọi của nó. Nghiên cứu tác phẩm, có thể thấy rất nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh, nhưng vẫn tập trung vào một chủ đề sâu rộng, chẳng những quan trọng đối với 70 năm về trước mà vẫn vô cùng quan trọng đối với thời điểm hiện nay. Đó là, xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Vậy nên, “Sửa đổi lối làm việc” vẫn mang tính thời sự, vẫn đang là yêu cầu bức thiết trong Đảng và trong xã hội ta, đương nhiên là đặt trong tình huống mới. Trong điều kiện cơ chế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, bên cạnh những tác dụng tích cực, còn xuất hiện cả một số mặt tiêu cực. Trong những năm gần đây, nhiều nghị quyết của Đảng, đã nhấn mạnh tình trạng suy thoái đạo đức trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; nhấn mạnh một trong bốn nguy cơ, thách thức nghiêm trọng, đó là nạn tham nhũng và tệ quan liêu. Tình trạng quan liêu, xa dân, không sát tâm tư nguyện vọng chính đáng của dân, không giải quyết kịp thời và trúng những thắc mắc của dân đã kéo dài ở không ít nơi, không ít cấp, không ít cán bộ. Hiện nay, Đảng ta coi tình trạng suy thoái đạo đức, nạn tham nhũng và tệ quan liêu, cửa quyền đang là những vấn đề nhức nhối, ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ và vai trò lãnh đạo của Đảng. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều biện pháp để ngăn chặn, đẩy lùi, khắc phục và xóa bỏ những tiêu cực đó; tuy nhiên, hiệu quả của cuộc đấu tranh vẫn còn thấp, chưa đáp ứng được nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Cùng với thời gian cũng như những thay đổi của tình hình thực tiễn, những biểu hiện thoái hóa, biến chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên dường như không giảm, trái lại, ngày càng có xu hướng phức tạp hơn. 
Để đáp ứng kịp thời và phù hợp với tâm nguyện của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta; tiếp tục thực hiện những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc tất yếu phải sửa đổi lối làm việc để xây dựng và chỉnh đốn Đảng, Đảng ta đã thông qua và ban hành Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” (ngày 16/1/2012) và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ (ngày 30/10/2016). Hai Nghị quyết ra đời cũng từ yêu cầu của thực tiễn, đánh giá đúng thực trạng và đề ra những nhóm giải pháp cấp bách phù hợp, là sự tiếp nối “Sửa đổi lối làm việc” để phù hợp với tình hình trong nước và quốc tế hiện nay. Cụ thể là: 
Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật về nguy cơ, thực trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên, 2 Nghị quyết TW đều nêu rõ: “Bên cạnh kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém, khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Nổi lên một số vấn đề cấp bách sau đây: 
Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc,... Đội ngũ cán bộ cấp trung ương, cấp chiến lược rất quan trọng nhưng chưa được xây dựng một cách cơ bản. Công tác quy hoạch cán bộ mới tập trung thực hiện ở địa phương, chưa thực hiện được ở cấp trung ương, dẫn đến sự hẫng hụt, chắp vá, không đồng bộ và thiếu chủ động trong công tác bố trí, phân công cán bộ. Một số trường hợp đánh giá, bố trí cán bộ chưa thật công tâm, khách quan, không vì yêu cầu công việc, bố trí không đúng sở trường, năng lực, ảnh hưởng đến uy tín cơ quan lãnh đạo, sự phát triển của ngành, địa phương và cả nước. 
Nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” trên thực tế ở nhiều nơi rơi vào hình thức do không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhâ công tác xây dựng Đảng còn không ít hạn chế, khuyết điểm. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, giảng dạy và học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chưa đáp ứng yêu cầu. 
Nội dung sinh hoạt Đảng ở nhiều nơi còn đơn điệu, hình thức, hiệu quả chưa cao. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của không ít tổ chức Đảng còn thấp, thậm chí có nơi mất sức chiến đấu. 
Công tác tổ chức, cán bộ và quản lý cán bộ, đảng viên còn yếu kém. Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng chưa đủ sức răn đe, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái. 
Tự phê bình và phê bình nhiều nơi mang tính hình thức; vẫn còn tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm; một số cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình trong công việc được giao. 
Việc phân định thẩm quyền, trách nhiệm, mối quan hệ công tác của người đứng đầu với tập thể cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị chưa rõ ràng. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước. 
Tình hình mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ không chỉ ở cấp cơ sở mà ở cả một số cơ quan Trung ương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty. Nhiều tổ chức Đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao. 
Trong khi đó, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc câu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. 
Từ thực tế, có thể khẳng định, nếu không có những giải pháp thích hợp để nghiêm túc thực hiện, nhằm tạo sự chuyển biến thật sự; nếu tình trạng đó cứ kéo dàithì lòng tin của nhân dân đối với Đảng sẽ không còn và khi đó, nguồn sức mạnh nội lực của Đảng cũng vì thế mà giảm sút. Vì vậy, để “lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt ba vấn đề cấp bách” mà Nghị quyết đã đề ra, làm cho Đảng mạnh, vững, trong sạch, xứng đáng với vai trò tiền phong như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng mong muốn, căn dặn, thì tất yếu phải sửa đổi lối làm việc. 
Việc triển khai thực hiện Nghị quyết, nhất là triển khai thực hiện các nhóm giải pháp của Nghị quyết, được quán triệt sâu rộng, cẩn trọng, nghiêm túc, có trọng điểm từ Trung ương đến chi bộ, từ Bộ Chính trị, Ban Bí thư đến các cấp ủy cơ sở và đến từng cán bộ, đảng viên. Qua đó, nhất định sẽ góp phần tạo được sự chuyển biến sâu sắc từ nhận thức đến hành động trong toàn Đảng và xã hội. Đặc biệt, những nội dung nêu trong Nghị quyết TW 4 khóa XI và Nghị quyết TW 4 khóa XII đều sát với những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Sửa đổi lối làm việc”, đó là: 
Tự phê bình và phê bình: điều đã từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh nói cách đây 70 năm, đến nay vẫn mang tính thời sự, bởi vì, muốn “Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ mạnh khỏe vô cùng”, thì tất yếu “mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt”. Đồng thời, việc tiến hành tự phê bình và phê bình phải được thực hiện nghiêm túc, triệt để, theo đó, “Một là, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương tập trung kiểm điểm, đánh giá làm rõ tại sao những hạn chế, khuyết điểm đã chỉ ra nhiều năm nhưng chậm được khắc phục,... Hai là, các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương tiến hành kiểm điểm, đánh giá liên hệ bản thân về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao liên quan đến một số vấn đề cấp bách nêu trong Nghị quyết này, đề ra biện pháp khắc phục. Tập trung làm rõ trách nhiệm cá nhân, gương mẫu thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình, nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức, lối sống. Ba là, các đồng chí ủy viên ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương, lãnh đạo các ban của Trung ương Đảng, ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy và cấp ủy các cấp nghiêm túc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, nêu gương bằng hành động thực tế. Trong quá trình kiểm điểm cần liên hệ, gắn với xem xét việc thực hiện các quy chế, quy định; việc giải quyết những vấn đề về tổ chức, cán bộ; về giải quyết những vấn đề bức xúc của ngành, cơ quan hoặc địa phương”. 
Công tác cán bộ: quán triệt lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cán bộ là gốc của mọi công việc” và “không phải vài ba tháng, hoặc vài ba năm, mà đào tạo được một người cán bộ tốt. Nhưng cần phải công tác, tranh đấu, huấn luyện lâu năm mới được. Trái lại, trong lúc tranh đấu, rất dễ mất một người cán bộ”, việc đưa ra và thực hiện nghiêm nhóm giải pháp về tổ chức, cán bộ và sinh hoạt đảng và nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách chính là nhằm “biết rõ ràng cán bộ, mới có thể cất nhắc cán bộ một cách đúng mực”, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn. Trên tinh thần đó, cần kiên quyết khắc phục tình trạng chạy chức, chạy quyền trong công tác tổ chức, cán bộ; không để các “nhóm lợi ích” chi phối công tác đề bạt, sử dụng cán bộ; chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, đề bạt, sử dụng người có năng lực, có đạo đức cách mạng, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đưa vào giữ các trọng trách ở các cơ quan trung ương, các tập đoàn kinh tế nhà nước; thực hiện dân chủ hơn nữa trong việc bầu cử các cấp ủy từ Trung ương đến cơ sở. Cần quy định rõ hơn việc bầu cử các chức danh chủ chốt, kể cả cấp trung ương, trong đó quy định có số dư; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để việc theo dõi, phát hiện, bồi dưỡng, đề bạt cán bộ được chặt chẽ; tiến hành việc xử lý kỷ luật những cán bộ thoái hóa, biến chất một cách nghiêm minh. Đối với cán bộ cấp cao do Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, càng phải được giúp đỡ, rèn luyện, đồng thời phải xử lý kỷ luật nghiêm minh, thích đáng nếu có sai phạm để nêu gương cho cấp dưới. 
Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên: Tuân thủ lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên gắn với việc kiểm điểm, đánh giá và biện pháp giải quyết vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng của các cấp”; “đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Đưa vào nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp trung ương”; và “chấn chỉnh hoạt động thông tin, tuyên truyền; quản lý có hiệu quả hoạt động báo chí theo đúng định hướng của Đảng và Nhà nước. Chú trọng làm tốt hơn việc nêu gương những người tốt, việc tốt; lấy nhân tố tích cực để đẩy lùi tiêu cực; đồng thời phê phán, đấu tranh với những biểu hiện sa sút về tư tưởng chính trị, vô trách nhiệm, vụ lợi cá nhân, vi phạm những chuẩn mực đạo đức, lối sống...”, như Nghị quyết đã nêu, sẽ có tác dụng giáo dục cho cán bộ, đảng viên và toàn thể xã hội nhận thức đúng về cơ sở lý luận và nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo sự thống nhất về hành động cách mạng trong Đảng và toàn xã hội. Công việc quan trọng này phải được xem là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa thường xuyên để cán bộ, đảng viên luôn giữ được vai trò tiền phong, gương mẫu của mình. 
Điểm mới của Nghị quyết TW 4 khóa XII là đã thẳng thắn chỉ ra một cách có hệ thống những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Và quan điểm của Đảng trong Nghị quyết là: “Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật. Kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách”. Đây là Nghị quyết đầu tiên  của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng Đảng và cũng là nhiệm vụ trọng tâm đầu tiên trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng. Việc Trung ương ban hành Nghị quyết lần này nhằm cụ thể hóa thực hiện 10 nhiệm vụ, giải pháp lớn về xây dựng Đảng mà Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đề ra; vừa tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, nhất là những việc Nghị quyết đề ra nhưng chưa thực hiện và thực hiện chưa tốt; đồng thời có nội dung mới so với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI là đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, gắn với thực hiện Chỉ thị 05-CT/ TW, ngày 15 - 5 - 2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và phát huy vai trò của nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đây là những nội dung cơ bản cần thực hiện đồng bộ, toàn diện mà trọng tâm là đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, để Đảng ta trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, đáp ứng lòng mong đợi của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đó cũng chính là sự tiếp nối “sửa đổi” về tư cách, đạo đức cách mạng trong “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước những biến động của tình hình mới. 
Những yêu cầu trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên đảng viên, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp, các ngành phải nhận thức sâu sắc, đầy đủ trách nhiệm của mình trước nhân dân, trước Đảng để tự giác thực hiện. Ở đây, sự gương mẫu của Trung ương là cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa quyết định. Từng đồng chí Ủy viên Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, từng đồng chí đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải tự giác, gương mẫu thực hiện nghị quyết, nói đi đôi với làm, chỉ đạo quyết liệt với quyết tâm rất cao, sự nỗ lực rất lớn”(Trích lời chỉ dẫn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4, khóa XII). từ những năm vừa kháng chiến, vừa kiến quốc vẫn rất cần được tiếp tục thực hiện trong hiện tại và tương lai. Đó là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa thường xuyên, góp phần xây dựng và chỉnh đốn Đảng ta, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Tuy nhiên, điều quan trọng là: “Muốn Nghị quyết này đi vào cuộc sống, tạo ra chuyển biến rõ rệt thì cả hệ thống chính trị phải vào cuộc. Từng tổ chức đảng, mỗi cán bộ,

Tài liệu tham khảo:
  1. “Sửa đổi lối làm việc”, Hồ Chí Minh: Toàn tập, T.4, tr. 269 - 346.
  2. Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 15/5/2016 về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phẩm chất Hồ Chí Minh.
  3. Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XI của BCHTW Đảng ngày 16/1/2012 về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.
  4. Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XII của BCHTW Đảng ngày 30/10/2016 về “Tăng cường... nội bộ”.