Chủ tịch Hồ Chí Minh với chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng

ThS. Vũ Kim Yến
Phòng Sưu tầm - Kiểm kê - Tư liệu


Cụ Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) xuất thân trong một gia đình nho học nghèo gốc nông dân, quê ở Thạnh Bình, Tiên Cảnh, Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam - một mảnh đất có truyền thống yêu nước và hiếu học. Chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng được coi là một trong “tứ hổ” của xứ Quảng, ba người kia là Trần Quý Cáp, Nguyễn Đình Hiếu và Phạm Liệu. Từ nhỏ, Huỳnh Thúc Kháng đã nổi tiếng thông minh, văn hay chữ tốt; sớm đọc nhiều tân thư, chịu ảnh hưởng của tư tưởng trong tân thư nên với kiểu kén chọn người tài “hủ lậu” thời phong kiến, ông “đã phải nhiều phen lạc đệ, mãi đến năm 29 tuổi (1904) mới đỗ tiến sĩ, nhưng không ra làm quan. Và cũng từ đó, ông bắt đầu học chữ Quốc ngữ, phát động phong trào Duy Tân mà ông là một trong ba kiện tướng dẫn đạo”(1). Khác với Phan Bội Châu chủ trương bạo động xuất dương cầu ngoại viện, Huỳnh Thúc Kháng khởi phát phong trào Duy Tân với chủ trương khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Năm 1908, sau vụ chống thuế của nhân dân Trung Kỳ mà Quảng Nam là điểm khởi phát, Huỳnh Thúc Kháng bị bắt rồi bị đày ở Côn Đảo đến năm 1921 mới được trả tự do.
Ra tù, chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục các hoạt động yêu nước theo cách của mình và vẫn từ chối chính quyền thực dân, không ra làm quan. Cuối năm 1925, cụ Huỳnh và một số người bạn ứng cử Viện dân biểu Trung Kỳ và trúng cử rồi được bầu làm Viện trưởng. Người Pháp hi vọng với chức sắc này cụ Huỳnh sẽ trở thành một “nghị gật” phục vụ cho lợi ích của chính quyền bảo hộ, nhưng họ đã nhầm. Hun đúc sẵn khí chất xứ Quảng, lại được tôi luyện qua 13 năm lao tù Côn Đảo, những điều cụ Huỳnh để lại luôn là bài học về nhân cách và phẩm giá của “người đại biểu của dân”.
Trong 3 năm hoạt động với vai trò Viện trưởng, cụ Huỳnh đã cùng nhóm dân biểu tiến bộ ra sức đấu tranh đòi ban bố Hiến pháp và những quyền tự do, dân chủ, mở trường dạy học, bỏ độc quyền rượu, muối... Dù những yêu cầu cải cách này nằm trong khuôn khổ của yêu sách cải lương, nhưng đã vấp phải sự chống đối quyết liệt của Nam triều và chính quyền thực dân. Như người “bừng tỉnh giấc mơ”, cụ Huỳnh đã xin từ chức cuối năm 1928.
Sau khi rời khỏi Viện Dân biểu Trung kỳ, cụ Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục lấy báo Tiếng Dân làm công cụ để đấu tranh đòi các quyền tự do, dân chủ. Hoạt động liên tục từ năm 1927 đến năm 1943, báo Tiếng Dân đã ra được 1766 số, trở thành tờ báo lâu năm nhất phản ánh những sự kiện lịch sử diễn ra ở Trung kỳ, đồng thời là nơi tập hợp tiếng nói của các lực lượng có tinh thần dân tộc dân chủ trong tầng lớp trí thức tiểu tư sản miền Trung trong cuộc đấu tranh đòi độc lập, dân chủ ở Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX, như lời của đồng chí Trường Chinh tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc (tháng 7-1948) khi ngợi ca về 16 năm hoạt động sôi nổi, đầy ắp hào khí cách mạng của tờ báo Tiếng Dân: “Thét Tiếng Dân giữa kinh thành Huế”.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời như một luồng sinh khí mới đủ sức làm chuyển biến trong nhận thức và cả hành động của chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng. Cùng với toàn dân tộc, cụ Huỳnh hân hoan đón chào tết Bính Tuất (1946)
cái tết độc lập đầu tiên của nước nhà sau 80 năm trường nô lệ, một cái tết thật mới, “mới lạ lùng”, như trong bài “Mừng tết độc lập” cụ viết:
“Cái Tết năm nay mới lạ lùng Mới ngày, mới tháng, mới non sông Dân hăm lăm triệu quyền ông chủ Nước bốn ngàn năm của tổ chung “Cứu quốc” lòng đà rèn một khối “Tự do” mầm ướm trổ trăm bông Cho hay người muốn trời chìu đấy Trận thắng năm nay trận cuối cùng”
Cách mạng tháng Tám thành công còn mang tới một điều đặc biệt nữa với cụ Huỳnh Thúc Kháng, đó là nếu như trước đó cụ Huỳnh chỉ biết một Việt Nam có hai nhà “đại ái quốc” là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, thì nay cụ được biết rõ thêm một lãnh tụ kiệt xuất, đó là Hồ Chí Minh. Lại càng đặc biệt hơn, khi Huỳnh Thúc Kháng được biết Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái  Quốc,  người mà trước đó Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đã đặt vào tất cả niềm hy vọng. Biết được như vậy, cụ Huỳnh Thúc Kháng càng nóng lòng mong mỏi được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính giữa lúc ấy, cụ nhận được bức điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh mời cụ ra Hà Nội tham gia chính phủ.
Bấy giờ là vào cuối năm 1945, tiết trời mưa lạnh, cụ Huỳnh điện trả lời: “Thời tiết xấu tôi chưa đi được và không thể nhận chức Bộ trưởng. Trước sau tôi cũng ra gặp cụ”. Vài ngày sau, cụ lại tiếp được bức điện thứ hai do Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp trong Chính phủ lâm thời được sự ủy nhiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi vào: “Chúng tôi khẩn khoản mời cụ ra Hà Nội nhận chức Bộ trưởng Nội vụ... Việc đại nghĩa xin Cụ đừng bỏ qua”. Sau khi bàn bạc với một vài nhân vật ở Huế, cụ Huỳnh nói: “Tôi chỉ muốn ra gặp cụ Hồ để bày tỏ một vài ý kiến, còn việc gì khác thì tôi không thể nhận”.
Tại Hà Nội, giây phút gặp gỡ đầu tiên giữa cụ Huỳnh Thúc Kháng và Chủ tịch Hồ Chí Minh thật là cảm động. Trong cuốn “Những năm tháng không thể nào quên”, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã kể lại: “Hai người đều bước vội tới ôm lấy nhau. Bác và cụ Huỳnh bỗng dưng đều ứa nước mắt, đã nhắc đến cụ Phó Bảng ngày xưa bao phen lận đận ra Bắc vào Nam giữa những năm dài tăm tối”. Sau buổi ấy, cụ Huỳnh nói với người xung quanh: “Dân ta có được Cụ Hồ, thật là hồng phúc”. Và ngay từ những phút đầu cụ Huỳnh đã thấy ở Hồ Chí Minh một sự thân thiết, gần gũi như một “tri kỷ”, như trong bài thơ chữ Hán cụ Huỳnh viết vào cuối năm ấy (1946) nhân dịp 70 tuổi. Bài thơ được Cụ dịch ra như sau:
“Nghĩ ta, ta cũng nực cười
Nhà nhà ba cõi, người người bốn phương Nghĩ đến nước, đến làng, đến họ
Có hay không? Không có? Có không?
Bảy tuần đầu bạc như bông Được người tri kỷ, thôi xong đã già!”
Cảm được cái trí, cái nhân, cái nghĩa từ Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Huỳnh đã đặt vào Người sự tin cậy hoàn toàn sau khi nghe Người kiên trì thuyết phục và cả lời nhắn gửi: “Cụ Huỳnh đã hy sinh nhiều, xin cụ hy sinh thêm”(2). Có thể nói, giữa thời khắc lịch sử của vận mệnh quốc gia, phần vì cảm và trọng Bác Hồ, tin vào đường lối chính trị vì đại nghĩa dân tộc của Đảng cộng sản mà Người là lãnh tụ; phần vì không thể lấy lý do tuổi già sức yếu để từ chối việc tham gia Chính phủ do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, cụ Huỳnh đã nhận lời tham gia Chính phủ liên hiệp kháng chiến. Đó không chỉ là thời khắc có ý nghĩa bước ngoặt, đó còn là biểu hiện sinh động nhất về sự cao cả của tấm gương nhà chí sĩ yêu nước họ Huỳnh.
Bắt đầu làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ chính thức của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, cụ Huỳnh Thúc Kháng dự phiên họp đầu tiên của Chính phủ vào ngày 4/3/1946 và đảm nhiệm vị trí Quyền Chủ tịch Chính phủ theo Sắc lệnh số 82 ngày 29/5/1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, cho đến ngày 21/10/1946, khi Hồ Chí Minh về nước. Sau đó, Cụ lại tiếp tục được tái nhiệm giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ mới thành lập vào tháng 11-1946. Điều đó thể hiện sự tin tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh với chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc hết sức cam go. Trong những năm tháng không dài ấy, mặc dù cụ Huỳnh hơn Chủ tịch Hồ Chí Minh 14 tuổi nhưng luôn “gần gũi nhau, trìu mến nhau bởi một lòng vì dân vì nước”; và mỗi khi nhắc đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Huỳnh thường trân trọng nói “đó là vị cha già của dân tộc”. Ngược lại, Bác Hồ đối với cụ Huỳnh như đối với người thân. Nhiều chi tiết nhỏ trong mối quan hệ giữa Bác và Cụ đã nói lên điều này. Cuối tháng 10-1946, từ Nghệ An, chị ruột Bác là bà Nguyễn Thị Thanh ra thăm Bác tại Bắc Bộ Phủ (có hai người đi cùng bà Thanh(3)). Biết bà Thanh mang quà quê biếu, Người nói: “Cảm ơn chị và hai cháu, tương thì để thỉnh thoảng mời Cụ Huỳnh (Huỳnh Thúc Kháng) cùng ăn cho vui, gà để nuôi cho nó đẻ trứng” và Người mời bà Thanh cùng hai cháu đến chiều ở lại ăn cơm với Người, có cụ Huỳnh cùng dự. Một tuần sau, ngày 3/11/1946, anh ruột Bác là ông Nguyễn Sinh Khiêm cũng từ Nghệ An ra thăm Người. Bác lại mời cụ Huỳnh dùng cơm trưa cùng Bác và anh trai.
Vào thời điểm nền độc lập non trẻ của dân tộc đang đứng trước những thử thách ngàn cân treo sợi tóc của họa ngoại xâm và sự phá hoại của các thế lực phản cách mạng bên trong thì uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thuyết phục được cụ Huỳnh Thúc Kháng ra tham chính và chính uy tín của cụ Huỳnh lại đóng góp đắc lực vào việc củng cố khối đoàn kết dân tộc, góp phần chặn đứng âm mưu phá hoại của kẻ thù. Trong buổi ra mắt Quốc hội và nhận trọng trách Bộ trưởng Nội vụ Chính phủ liên hiệp kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trân trọng giới thiệu Huỳnh Thúc Kháng là “một người đạo đức, danh vọng mà toàn thể quốc dân ai cũng biết”. Lời nói ngắn gọn nhưng hàm chứa trong đó tấm lòng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự trân trọng của Người với cụ Huỳnh. Tấm lòng ấy nhất quán trong tư tưởng trọng dụng hiền tài, trong chính sách đặc biệt tôn trọng nhân sĩ, trí thức của Người. Đồng chí Đặng Việt Châu, nguyên Phó thủ tướng Chính phủ, kể lại: Tháng 4 - 1946, khi Bác cho gọi đồng chí về làm Chánh văn phòng Bộ Nội vụ, Bác căn dặn khi làm việc với cụ Huỳnh phải hiểu cụ là người rất khí khái, khi làm việc, có việc gì, phải báo cáo hết với cụ, không giấu diếm, không được giải quyết ở bên dưới với nhau. Lời căn dặn của Bác: “Mình phải thật thà, tôn trọng cụ, mới thuyết phục được cụ” không chỉ cho thấy nguyên tắc nhất quán trong tư tưởng đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn thấy được sự đồng điệu giữa hai tâm hồn, hai khí phách của hai bậc túc nho.
Để mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết dân tộc nhằm tăng cường lực lượng bảo vệ thành quả cách mạng, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam được thành lập, cụ Huỳnh Thúc Kháng, một trong những sáng lập viên được bầu làm Hội trưởng, Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Hội trưởng danh dự. Nhấn mạnh ý nghĩa của sự kiện này, trong bài trả lời phỏng vấn của một nhà báo nước ngoài ngày 6/7/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Hội Liên hiệp quốc dân là do những người lão thành có danh vọng đạo đức như cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ Bùi Bằng Đoàn, v.v.. và những người yêu nước không có đảng phái đứng ra tổ chức. Hội đó đã thực hiện sự đại đoàn kết của toàn dân gồm tất cả các từng lớp, đảng phái, tôn giáo và dân tộc trong nước Việt Nam. Tinh thần của Hội đó là yêu nước, chương trình là quyết tranh đấu cho Tổ quốc được thống nhất, độc lập, thống nhất và dân chủ, phú cường”(4).
Ngày 31/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm nước Pháp, Người đã tin cậy giao phó chức quyền Chủ tịch cho cụ Huỳnh với lời căn dặn: “ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở Cụ cùng anh em giải quyết cho. Mong Cụ “dĩ bất biến ứng vạn biến” (lấy cái không thay đổi để đối phó với muôn sự thay đổi)”. Trong thời gian giữ chức vụ Quyền Chủ tịch Chính phủ, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã ký 159 Sắc lệnh (từ Sắc lệnh số 92 đến 251) và quyết định nhiều vấn đề khi chủ trì các phiên họp của Hội đồng Chính phủ. Cụ đã mang hết nhiệt huyết, tâm trí, tài lực để ổn định tình hình chính trị của đất nước trong bối cảnh nước sôi lửa bỏng năm 1946, và rất thành công trong thực hiện phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn. Một trong những minh chứng là việc cụ chỉ đạo lực lượng công an phá thành công vụ án số 7 phố Ôn Như Hầu (tháng 7-1946) do các phần tử phản động trong Việt Nam Quốc dân Đảng chủ mưu. Cụ Huỳnh đã bình tĩnh cân nhắc, không để mắc vào âm mưu khiêu khích của kẻ thù. Cụ đã chỉ đạo lực lượng công an phải tìm đủ các chứng cứ về hoạt động phản cách mạng, sau đó mới tiến hành tấn công, truy quét bọn phản cách mạng. Từ quyết định sáng suốt, đúng lúc, đúng luật pháp của cụ Huỳnh Thúc Kháng, lực lượng công an đã triệt phá thành công vụ án Ôn Như Hầu, đập tan cuộc đảo chính phản cách mạng do Quốc dân Đảng câu kết với quân đội viễn chinh Pháp trước 48 giờ. Về chiến công vẻ vang này, đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng đã đánh giá: “Những vụ khám bắt trên đây có một tác dụng vô cùng quan trọng; nó lột mặt bọn phản động bên trong, tay sai của bọn phản động bên ngoài... Nó lôi ra ánh sáng dư luận một bọn giả danh chính trị, giả danh quốc gia dân tộc... Mấy cuộc khám bắt vừa đây cắm một cái mốc trên con đường thống nhất dân tộc và biểu lộ sức mạnh, uy tín của chính quyền nhân dân...”.
Trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm nước Pháp, một số ít nhân dân có phần lo lắng, bọn Việt gian lại lợi dụng cơ hội đó để âm mưu làm giảm uy tín của Người, cụ Huỳnh đã viết bài thơ ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Tung hoành bể Sở với non Ngô Đảm lược ai hơn Chủ tịch Hồ Mưa gió dãi dầu bao tuế nguyệt Nước non gây dựng nội cơ đồ Sen kia chẳng ngại hôi bùn lắm Tùng nọ bao phen ngọn gió xô Khắp cả ba kỳ đều tín nhiệm, Rộn ràng muôn miệng tiếng hoan hô”.
Những đóng góp của cụ Huỳnh Thúc Kháng trong thời gian đảm nhiệm trọng trách quyền Chủ tịch nước đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao. Ngày 23/10/1946, trong lời tuyên bố với quốc dân sau khi từ Pháp về, Chủ tịch Hồ Chí Minh cảm ơn mọi người, trước hết là cụ Huỳnh: “Trong lúc tôi đi vắng, nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của cụ Huỳnh quyền Chủ tịch, sự săn sóc giúp đỡ của Quốc hội, sự ra sức gánh vác của Chính phủ, sự đồng tâm hợp lực của quốc dân, mà giải quyết được nhiều việc khó khăn, công việc kiến thiết cũng tiến bộ...”(5).
Tháng 11/1946, trước nguy cơ chiến tranh đến gần, Quốc hội cải tổ lại Chính phủ liên hiệp kháng chiến, một lần nữa như Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo với Quốc hội: “Kết quả là, có những vị có tài năng nhận lời mời tham gia Chính phủ như: cụ Huỳnh, vì tuổi già sức yếu mà cố từ, nhưng vì tôi lấy đại nghĩa mà lưu cụ. Cụ cũng gắng ở lại… ai nấy đều hứa sẽ cố gắng làm việc, một lòng vì nước, vì dân”(6). Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cử cụ Huỳnh thay mặt Chính phủ cùng ông Tôn Quang Phiệt thay mặt Ban Thường trực Quốc hội đi kinh lý các tỉnh miền Trung, thăm hỏi động viên đồng bào và kiểm tra việc chuẩn bị của các chính quyền địa phương cho việc sẵn sàng “Toàn quốc kháng chiến”. Ở tất cả những nơi đi qua trên đường kinh lý, cụ Huỳnh Thúc Kháng đều không mệt mỏi kêu gọi toàn dân đồng lòng kháng chiến, kiến quốc. Trong những ngày làm việc ở Quảng Nam, sức khỏe cụ Huỳnh suy yếu nhiều. Trung tuần tháng 4-1947, khi ông Tôn Quang Phiệt phải ra Bắc để báo cáo về tình hình công tác, “cụ tiễn chân ông Phiệt ra tận cổng, rồi cầm tay ông Phiệt, cụ nói: Tôi chắc không gặp lại Hồ Chủ tịch. Ông về Hà Nội báo cáo với cụ công việc chúng mình đã làm từ hôm rời Hà Nội đến nay, và nói riêng giúp tôi: tôi gửi lời chào cảm mến Hồ Chủ tịch và xin kính chúc cụ sống lâu để lãnh đạo cuộc chiến tranh này cho đến thắng lợi, như cụ đã lãnh đạo cuộc Cách mạng tháng Tám thành công”(7).
Mấy ngày trước khi qua đời, Cụ Huỳnh đã viết gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh một bức thư thống thiết và một bức thư gửi binh sĩ. Trong thư gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Huỳnh viết:
Kính gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh,
Tôi bị bệnh không qua khỏi, 40 năm ôm ấp độc lập và dân chủ, nay nước nhà đã độc lập, chế độ dân chủ đã thực hiện. Thế là tôi chết hả chí! Tiếc không được gặp Cụ lần cuối cùng. Chúc Cụ sống lâu để dìu dắt quốc dân lên đường hạnh phúc.
22 - 4 - 1947
Chào vĩnh quyết Huỳnh Thúc Kháng
Và Cụ Huỳnh cũng gửi tấm lòng mình tới anh em binh sĩ. Cụ viết:
Gửi anh em binh sĩ, Anh em là những vị anh hùng vô danh của đất nước. Mong anh em hăng hái hơn nữa, nhất định không để cho dân tộc ta bị tròng vào ách thực dân một lần nữa.
Chào vĩnh quyết Huỳnh Thúc Kháng
Cụ Huỳnh Thúc Kháng từ trần ngày 21/4/1947, tại Quảng Ngãi, thọ 71 tuổi. Được tin đau buồn đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm bài thơ điếu bằng chữ Hán và Người đã tự dịch như sau:
“Than ôi, Bể Đà Nẵng triều thảm Đèo Hải Vân mây sầu Tháng tư tin buồn đến Huỳnh Bộ trưởng đi đâu Trông vào Bộ Nội vụ
Tài đức tiếc thương nhau Đồng bào ba chục triệu Đau đớn lệ rơi châu”.
Cả nước để tang chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng giữa lúc cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra ác liệt. Vào dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư tới toàn thể đồng bào và khẳng định “cụ Huỳnh tuy tạ thế nhưng cái chí vì nước, vì nòi của cụ vẫn luôn sống mạnh mẽ trong lòng 20 triệu đồng bào chúng ta”, vì: “Cụ Huỳnh là một người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao. Vì lòng yêu nước mà trước đây Cụ bị bọn thực dân làm tội, đày ra Côn Đảo, mười mấy năm trường, gian nan cực khổ. Nhưng lòng son dạ sắt, yêu nước thương nòi của Cụ Huỳnh chắc chắn không sờn lại thêm kiên quyết. Cụ Huỳnh là người mà giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan.
Cả đời cụ Huỳnh không màng danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan. Cả đời Cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước đư- ợc độc lập”(8).
Có thể nói, trong hành trình giải phóng dân tộc, khi đi dưới ngọn cờ Hồ Chí Minh, Huỳnh Thúc Kháng đã trở thành một nhà lãnh đạo góp phần tích cực thúc đẩy dân tộc tiến lên phía trước và là một tấm gương sáng vì dân tộc cho mọi thế hệ người Việt Nam. Lời đánh giá chân tình và chuẩn xác của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cụ Huỳnh Thúc Kháng chính là tượng đài muôn thuở, tôn vinh tấm gương một nhà yêu nước chân chính, mãi mãi lưu danh với hậu thế.


Chú Thích

1.    Nguyễn Q. Thắng: Huỳnh Thúc Kháng tác phẩm, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1992, tr.21.
2.    Hồi ký của ông Nguyễn Xương Thái, tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh
3.    Cả hai người đang học lớp mật mã ở Hà Nội. Đó là đồng chí Nguyễn Sinh Thọ, cháu gọi Người bằng ông và đồng chí Hồ Quang Chính - con nuôi cụ Hồ Tùng Mậu, tác giả tập Hồi ký “Bác Hồ gặp chị và anh ruột”.
4.    Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2011, t.5, tr.200.
5.    Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2011, t.4, tr.467
6.    Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2011, t.4, tr.481
7.    Nguyễn Dân Trung, “Bác Hồ và cụ Huỳnh Thúc Kháng”, Chí sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng (nhiều tác giả), Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hội Khoa học lịch sử Việt Nam xuất bản, H.1997, tr.205-206
8.    Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H,2011, t.5, tr.142