Chủ tịch Hồ Chí Minh với Việt kiều Thái Lan hồi huơng

Chu Ngọc Lan
Nguyên cán bộ Bảo tàng Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người am hiểu và có mối quan hệ gần gũi với Việt kiều trên đất Thái Lan. Việt kiều ở Thái Lan có khoảng hơn 70.000 người (1). Họ là những người đã phải sang đây làm ăn từ thời Cần Vương, thời Đông Du (những năm 20 của thế kỷ XIX) vì bị chế độ phong kiến Việt Nam đàn áp; một số cán bộ cách mạng trốn sang Xiêm sau cuộc bạo động  Xôviết Nghệ -Tĩnh năm 1930 và đông đảo nhất là hơn 55.000 Việt kiều Lào đã bỏ nhà cửa, vườn tược, của cải, tản cư sang Thái Lan lánh nạn từ đầu năm 1946. Mặc dù sang lánh nạn ở Thái Lan vào những thời điểm khác nhau, nhưng họ đều có điểm chung là những người dân lao động cần cù bị thực dân, phong kiến làm cho đói khổ, bần cùng phải tha phương kiếm sống và có tinh thần yêu nước cao, có truyền thống đoàn kết đấu tranh, sẵn sàng hi sinh cho Tổ quốc.
Bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có hơn1 năm hoạt động ở Thái Lan (tháng 7/1928 đến 11/1929). Người đã tích cực tuyên truyền, vận động, gây dựng, củng cố cơ sở cách mạng và gây ảnh hưởng về trong nước. Tại các vùng có nhiều Việt kiều như Phi-chịt, Sa côn, Nakhon,... Người đã mở các lớp huấn luyện ngắn hạn cho các hội viên chi bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên; cải tiến công tác báo chí, vận động mở trường dạy học cho kiều bào Việt Nam. Nhiều lần Người đã gặp nguy hiểm, nhưng nhờ cơ sở cách mạng và đồng bào Xiêm (từ năm 1939 đổi tên là Thái Lan) che chở, Người đã được bảo vệ an toàn. Trong thời gian sinh sống tại đây, Người đã luôn dành thời gian để tìm hiểu về cuộc sống, sinh hoạt và điều kiện kinh tế xã hội của bà con Việt kiều ở trên mảnh đất Xiêm khi đó. Trong  bài viết trên báo Thanh niên, số 71, ngày 28/11/1926, Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Từ khi Tây cướp nước An Nam, dân An Nam lưu ly thất sở, tan cửa, tan nhà, phải bỏ quê cha đất tổ, dạt ra đất khách quê người...Người An Nam ở Xiêm có đến hơn 3 vạn người, có chỗ tự lập ra thành làng, thành chợ, có chỗ thì ở lẫn với người Xiêm. Những người ở tụm lại với nhau thì nhân tình, phong tục vẫn còn giữ thói cũ, cúng tế lễ, cúng tang ma, đường ăn nói thì không thay đổi chút nào cả. Còn những người ở lẫn với dân Xiêm thì bọn người cũ, nhiều người quên mất cả tiếng An Nam mà học thói ăn bốc, mặc vấn như dân Xiêm vậy”.
Trong bài viết “Kiều bào ta ở Thái Lan luôn luôn hướng về Tổ quốc”,Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Hồi phong kiến, các vua Minh Mạng và Thiệu Trị nhà Nguyễn tàn sát những người theo đạo Thiên Chúa. Nhiều đồng bào công giáo phải lánh nạn sang Xiêm. Họ ở thành từng xóm từng làng nho nhỏ, nhiều nhất là gần kinh đô Băng Cốc. Vì ở đã lâu đời, họ theo phong tục tập quán Xiêm, nhưng vẫn nói tiếng Việt và tụng kinh bằng tiếng Việt. Sau phong trào “văn thân” và phong trào cách mạng khác thất bại, đế quốc Pháp khủng bố dã man. Nhiều người cách mạng cũng tạm lánh nạn sang Xiêm. Từ năm 1946, đế quốc Pháp lại gây chiến tranh xâm lược, người Việt chạy sang Xiêm lần này khá đông. Nói tóm lại: Việt Kiều ở Thái Lan đều là nạn nhân của phong kiến và đế quốc. Kiều bào ta ở Thái Lan đều làm ăn cần cù. Người thì làm ruộng.Người thì buôn bán nhỏ. Người thì làm nghề thủ công. Mọi người đều góp phần làm cho kinh tế Thái Lan thêm thịnh vượng. Kiều bào ta ai cũng nghiêm chỉnh tuân theo luận pháp của nước Thái Lan và ăn ở hòa mục với nhân dân Thái Lan. Vì vậy họ được bà con Thái Lan yêu mến”(2).
Từ đầu năm 1959, Chính phủ Thái Lan do đế quốc Mỹ xúi giục bắt đầu dùng những chính sách hà khắc đối với kiều bào ta, như ép kiều bào ở tỉnh này rời đi ở tỉnh khác xa hơn. Kiều bào bị dồn về ở một số tỉnh miền Nam Thái Lan và  Chính phủ Thái Lan có ý định trao đổi số kiều bào này cho chính quyền Diệm. Kiều bào Thái Lan đã đoàn kết một lòng kiên quyết chống lại những hành động khủng bố của Chính phủ Thái Lan và đòi hồi hương về miền Bắc Việt Nam. Đảng và Chính phủ Việt Nam dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm tới vấn đề này. Ngay từ tháng 01/1959, Chính phủ Việt Nam đã tích cực đấu tranh bằng con đường ngoại giao. Báo chí, đài phát thanh trong nước liên tục đưa tin, bài bình luận lên án hành động khủng bố trắng trợn của Chính phủ Thái Lan. Ngày 20/6/1959, Hiệp định hồi hương cho Việt kiều Thái Lan đã được ký kết. Theo Hiệp định Việt kiều ở Thái Lan bắt đầu hồi hương vào đầu năm 1960.
Tháng 10 năm 1959, Đảng và Chính phủ ta đã thông qua chủ trương, kế hoạch đón tiếp việt kiều ở Thái Lan, Tân thế giới, Tân đảo và Nam Mỹ về nước (3). Trong đó nhận định: “ Theo kết quả đàm phán giữa ta và Thái Lan, giữa ta và cơ quan Tổng đại diện Pháp ở Hà Nội, trong ba năm tới kể từ tháng 1 năm 1960, sẽ có một số lớn Việt kiều từ 5 đến 6 vạn ở Thái Lan, Tân thế giới, Tân đảo và Nam Mỹ về nước, mỗi tháng ước lượng sẽ về từ 1000 đến 2000 người”. Về thành phần Việt kiều Thái Lan, trong số 7 vạn người ước lượng có 45% làm nghề thợ (nề, mộc, gạch, thiếc, cắt tóc, may v.v..) và làm vườn, 15% buôn bán nhỏ và kém sức lao động, 30% là thanh thiếu niên, 5% buôn bán có cơ sở kinh doanh tương đối khá, và độ 4 nghìn là gia đình cán bộ quân nhân, liệt sỹ, tử sỹ, độ 5000 người quê quán ở miền Nam. Chủ trương đón tiếp Việt kiều đã đề ra mục tiêu, phương châm kế hoạch đón tiếp, công tác giáo dục,  giải quyết công ăn việc làm cho Việt kiều về nước;  Chính sách cụ thể đối với Việt kiều về nước (Chính sách đón tiếp Việt kiều ở cửa khẩu và ở các tỉnh, chính sách đối với tài sản, hàng hóa Việt kiều mang về, chính sách đối với con cái Việt kiều, chính sách đối với những Việt kiều quá túng thiếu, chính sách đối với Việt kiều là gia đình liệt sỹ, tử sỹ, thương binh, quân nhân, gia đình có công đối với cách mạng, những cựu chính trị phạm, chính sách đối với trí thức, nhân viên kỹ thuật và cán bộ). Chủ trương cũng nêu rõ: Việt kiều về nước lần này có tầm quan trọng đặc biệt, có ảnh hưởng đến nhiều mặt ở trong nước và ngoài nước. Đây là lực lượng chính trị đã được thử thách trong phong trào cách mạng, là vốn quý về nước sẽ tăng cường lực lượng đấu tranh và sản xuất, làm tăng uy tín của chế độ ta...Vì vậy, việc đón tiếp Việt kiều phải tổ chức chu đáo, nhiệt tình, biểu hiện được sự quan tâm săn sóc của Đảng, Chính phủ đối với họ, đồng thời phải giáo dục cho cán bộ và nhân dân trách nhiệm giúp đỡ Việt kiều, sắp xếp công ăn việc làm cho họ nhanh chóng ổn định sinh sống, nỗ lực làm nhiệm vụ của mình sau khi về nước. Đồng thời Chủ trương cũng đề ra công tác tổ chức thực hiện. Đây là nhiệm vụ chung của toàn dân, các bộ ngành, các địa phương, do Bộ Nội vụ chủ trì:  “Các Bộ, các ngành, các Ủy ban thành phố và tỉnh cần nhận rõ tầm quan trọng và khó khăn của việc đón tiếp Việt kiều về nước lần này. Các Bộ, các ngành, các địa phương phải có tinh thần phụ trách cao để làm tốt công tác đón tiếp, công tác giải quyết công việc làm, ổn định đời sống cho Việt kiều. Phải chú ý tiến hành khẩn trương, tích cực, chu đáo, phối hợp chặt chẽ”. Ban phụ trách lãnh đạo công tác Việt kiều ở ngoại quốc về nước đã được thành lập theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ. Ông Nguyễn Khang, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng làm Trưởng ban. Bộ Nội vụ phụ trách công việc thường trực.
Để tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân thấy được tầm quan trọng đặc biệt của công tác đón tiếp Việt kiều về nước cũng như biểu thị sự quan tâm săn sóc của Đảng và Chính phủ đối với Việt kiều hồi hương, Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh V.K đã viết bài: “Kiều bào ta ở  Thái Lan luôn luôn hướng về Tổ quốc”(4) đăng báo Nhân dân, số 2123, biểu dương những đóng góp to lớn của kiều bào trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc như giúp đỡ các chiến sĩ cách mạng, trong đó có Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong những năm tháng hoạt động bí mật và động viên con em mình tham gia các công tác cách mạng. Người tin tưởng, kiều bào ta trước đây luôn hướng về Tổ quốc thì ngày nay sẽ cùng đồng cam cộng khổ với nhân dân cả nước, góp phần vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà.
Trước khi trực tiếp xuống Hải Phòng đón chuyến tàu đầu tiên của kiều bào về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tới thăm và kiểm tra khu lao động An Dương, nơi thành phố Hà Nội chuẩn bị để đón kiều bào ở Thái Lan về nước ở, ngày 7/1/1960 (5). Người đã xem xét nơi ở của khu, nhắc nhở mọi người phải chú ý vấn đề vệ sinh và tỏ ý khen ngợi cán bộ, công nhân thủ đô đã tích cực tham gia xây dựng tốt nơi đón tiếp Việt kiều. Vào 9h15 ngày 10/01/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nhiều vị đại diện của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ Hà Nội xuống bến Sáu kho (Hải Phòng) dự Lễ đón kiều bào ở Thái Lan về nước. Tàu Anh Phúc chở 922 Việt kiều Thái Lan về nước, mở đầu cho đợt hồi hương lớn nhất trong lịch sử Việt Nam cho tới nay. Báo Nhân dân ngày 11/1/1960 đã tường thuật lại sự kiện này: “ 8 g đúng, tàu cặp bến, hoa tung từ dưới đất lên tàu, từ tàu xuống đất, tiếng hô Hồ Chủ tịch muôn năm, tiếng hát Kết đoàn vang từ tốp này tới tốp khác ra tới bến tàu. 9h15, Hồ Chủ tịch tới thăm kiều bào giữa tiếng hoan hô vang dậy của mọi người. Nhiều kiều bào nhẩy lên để cố nhìn rõ Hồ Chủ tịch. Sung sướng nào bằng vừa bước chân lên đất nước lại gặp ngay vị lãnh tụ kính mến ”.
Tại lễ đón, nói chuyện thân mật với kiều bào cùng 4 vạn đồng bào Hải Phòng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiệt liệt hoan nghênh kiều bào trở về Tổ quốc, cảm ơn nhân dân, Chính phủ Thái Lan, Hội Hồng thập tự Quốc tế, Hội Hồng thập tự Thái Lan, thuyền trưởng và thủ thủy tàu Anh Phúc đã giúp đỡ kiều bào. Nói chuyện với kiều bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh tin chắc rằng “đã bao năm, kiều bào ta ở đất khách quê người, luôn luôn hướng về Tổ quốc. Ngày nay, kiều bào đã sung sướng trở về xứ sở. Đảng và Chính phủ tin chắc rằng kiều bào sẽ vui vẻ cùng đồng bào cả miền Bắc đồng cam cộng khổ, vượt mọi khó khăn, hăng hái thi đua, tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng Tổ quốc giàu mạnh, vui tươi, xây dựng chủ nghĩa xã hội”(6). Người cũng nhắc nhở nhân dân, cán bộ các địa phương có kiều bào hồi hương cần phải giúp đỡ đồng bào đúng như Đảng và Chính phủ đã chỉ thị.
Sáng ngày 29/1/1960 tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Đoàn đại biểu Việt kiều ở Thái Lan mới về nước đến thăm và chúc Tết Ngườiđầu xuân Canh tý (7).Người thân mật nói chuyện với các đại biểu về tình hình trong nước, những khó khăn của ta trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội và nhắc nhở kiều bào cố gắng làm việc, học tập để góp phần vào công cuộc kiến thiết đất nước.Kiều bào ta ở Thái Lan vô cùng cảm động và biết ơn sâu sắc đối với Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện cho kiều bào được trở về Tổ quốc, được đón tiếp nồng nhiệt và tạo mọi điều kiện để làm ăn sinh sống. Vì vậy, kiều bào ta đã tự nguyện đóng góp nhiều tiền, của để xây dựng đất nước và tích cực tham gia phong trào xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong bài: Chuyện giả mà có thật, ký bút danh Trần Lam, đăng báo Nhân dân số 2242, ngày 9/5/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết về cảm tưởng cụ Lam là một Việt kiều già ở Thái Lan mới về nước trên chuyến tàu thứ 63, sau khi đã lưu lạc ở đất khách quê người ngót 50 năm. Đây cũng là cảm nghĩ của đồng bào kiều bào Thái Lan về nước nói chung:“Khi được tin Chính phủ ta và chính phủ Thái Lan ký giấy đưa Việt kiều về nước, ai nấy đều mừng rỡ như tìm được kho vàng. Bọn Mỹ - Diệm phái người sang đe doạ và mua chuộc, hòng kéo một số kiều bào về Nam. Nhưng không ai thèm đếm xỉa đến chúng.
Ai cũng nóng ruột muốn sớm được về nước. Nhưng ai cũng biết nhường nhịn lẫn nhau và vui vẻ theo cách sắp xếp của Chính phủ ta. Trước ngày về, ai cũng tự hứa hẹn và hứa hẹn với nhau: Về nước nhất định sẽ cố gắng lao động cho giỏi, để bù đắp lại công ơn của Tổ quốc và đồng bào. Về đến Tổ quốc, tôi sung sướng không thể tả được. Ngay bây giờ, tôi đang sống như trong một giấc chiêm bao, vì cái gì cũng khác hẳn với ngày trước”.
Hòa cùng không khí sôi nổi của việc chuẩn bị bầu cử Quốc hội khóa III trên miền Bắc, những kiều bào Thái Lan vừa về nước vô cùng phấn khởi chuẩn bị thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi công dân của mình, nhất là những người vừa đủ 18 tuổi. Cụ Lã ở Thái Lan mới về nước năm ngoái, gần 70 tuổi rồi, lần này là lần đầu tiên mới được cầm lá phiếu bầu đại biểu vào Quốc hội. Sung sướng biết bao! Càng sung sướng thì càng biết ơn đảng, quân đội, nhân dân đã hy sinh chiến đấu, đưa cách mạng đến thành công (7).
Tình cảm và sự quan tâm sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Việt kiều Thái Lan hồi hương còn thể hiện ở việc Người đã tặng huy hiệu của Người cho những Việt kiều Thái Lan cao tuổi (trên 75 tuổi) về nước. Theo thống kê của Ban Việt kiều Trung ương, Vụ dân chính và Việt kiều của Bộ Nội vụ gửi Văn phòng Phủ Chủ tịch thì  từ năm 1960 đến năm 1964, danh sách Việt kiều Thái Lan từ 75 tuổi trở lên về nước được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng huy hiệu gồm 322 người. Trong đó: Năm 1960: 190 người, năm 1961: 29, năm 1962: 74 và năm 1964: 29 người. Tính từ chuyến đầu tiên 10/1/1960 đến chuyến 75 – là chuyến cuối cùng vào tháng 8/1964 đã có khoảng hơn 45.000 người hồi hương trên tổng số hơn 70.000 kiều bào Thái Lan đăng ký về nước khi đó theo lời kêu gọi trở về xây dựng quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Qua danh sách chúng ta biết được số lượng, tên tuổi, quê quán, nơi cư trú ở Thái Lan, gia cảnh của các cụ trên 75 tuổi và nhất là ngày tháng năm cặp bến của từng chuyến tàu hồi hương.  Năm 1960: có 22/23 chuyến về nước (từ chuyến thứ 2, ngày 26/1/1960: có 5 cụ từ Udon về nước đến chuyến thứ 23, ngày 14/12/1960). Năm 1961: 8/23 chuyến (từ chuyến thứ 24, ngày 3/1/1961 đến chuyến thứ 46, ngày 22/12/1961). Năm 1962: có 11/22 chuyến (từ chuyến thứ 47, ngày 7/1/1962 đến chuyến thứ 57, tháng 7/1962). Năm 1964: có 6/7 chuyến (từ chuyến thứ 69, ngày 26/1/1964đến chuyến thứ 75, tháng 8/1964). Có tất cả 322 Việt kiều Thái Lan trên 75 tuổi của 47 chuyến trên tổng số 75 chuyến tàu hồi hương được tặng huy hiệu Bác Hồ. Việt kiều Thái Lan từ các tỉnh như: Udon, Sakol, Nakhon, Nongkhai, Thabo, Mucdahan, Băngcốc. Quê quán của họ ở Việt Nam ở các tỉnh như: Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Nam Định, Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Ninh Bình... Hàng ngàn Việt kiều Thái Lan về nước đã tỏa đi khắp nơi để xây dựng Tổ quốc, hình thành nên các “làng Việt kiều” hay “làng Thái Lan” ở Thanh Hóa, Hòa Bình, Phú Thọ, Tuyên Quang... Những lớp Việt kiều về nước luôn luôn ghi nhớ lời Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi về nước để làm tất cả những việc và đi tất cả những nơi mà Đảng và nhân dân cần.
Như vậy, tình cảm và sự quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Việt kiều Thái Lan và nhất là những kiều bào Thái Lan hồi hương chung tay xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thể hiện rất rõ nét qua những bài viết, việc làm hết sức ý nghĩa của Người. Qua đó cũng thể hiện tầm nhìn xa, luôn tin tưởng lực lượng Việt kiều của Người. Và kiều bào Thái Lan về nước đã đáp lại sự tin yêu ấy và luôn nỗ lực phấn đấu đúng như tinh thần của hai khẩu hiệu đỏ vàng nổi bật trên nền trắng của sườn tàu Anh Phúc: “Biết ơn và nhiệt liệt hoan nghênh sự quan tâm săn sóc của Đảng, Chính phủ, Hồ Chủ tịch và toàn thể nhân dân đối với kiều bào chúng tôi!” và “Quyết tâm đoàn kết với nhân dân trong nước để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà!”.

Chú thích:
(1) Số liệu trước năm 1960
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002, t.10, tr.23.
(3) Chủ trương, kế hoạch đón tiếp việt kiều ở Thái Lan, Tân thế giới, Tân đảo và Nam Mỹ về nước. Tài liệu có bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bản đánh máy lưu tại Lưu trữ Văn phòng Trung ương  Đảng, Phông  Hồ Chủ tịch, 10 trang. Ký hiệu: H 16C4/23.
(4) Bản thảo: Kiều bào ta ở Thái Lan luôn luôn hướng về Tổ quốc. Tài liệu ký hiệu: TP. 1074.
(5) Ảnh ký hiệu: NL. 1081 -1082.
(6) Bài nói chuyện với kiều bào Thái Lan về nước chuyến đầu tiên tại Hải Phòng, ngày 10/1/1960.
Tài liệu ký hiệu: TP. 41
(7) Ảnh ký hiệu: ND. 1207 – ND 1226.
(8) Bài Kiều bào về nước và Tổng tuyển cử của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bút danh Chiến Sĩ, đăng báo Nhân dân, số 3679, ngày 25/4/1964.