Chủ tịch Hồ Chí Minh với nông dân, nông nghiệp và nông thôn

Nguyễn Minh Đức
Phòng Tuyên truyền, Giáo dục
 
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đến mọi tầng lớp xã hội, trong đó Người đặc biệt quan tâm đến giai cấp nông dân,“một lực lượng rất to lớn của dân tộc, một đồng minh rất chắc chắn của giai cấp công nhân”. Người bôn ba tìm đường cứu nước vì nền độc lập của dân tộc, để “người cày có ruộng”, để “ruộng đất về tay dân cày”, để “mọi người ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.
Hơn ai hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thấu hiểu những vất vả, hy sinh mất mát của người nông dân trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của đất nước. Sinh ra trong gia đình nhà nho, có nguồn gốc nông dân, in sâu trong ký ức tuổi thơ của cậu bé Nguyễn Sinh Cung là hình ảnh những người nông dân “một nắng hai sương”, những trẻ em nghèo khổ lang thang… với cuộc sống lầm than của kiếp người nô lệ. Lớn lên trong hành trình theo cha đi dạy học, tận mắt chứng kiến số phận đau khổ của phần lớn người dân lao động, Nguyễn Tất Thành càng thấm thía thân phận cùng khổ của người dân mất nước. Nỗi đau dân nước đã thôi thúc Người quyết tâm đi tìm lối thoát cho dân tộc, đi tìm con đường giải phóng khỏi mọi áp bức bóc lột, bất công cho đồng bào mình.

Bốn tháng sau khi từ Pháp sang Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc đã tham dự Đại hội lần thứ I Quốc tế Nông dân vào tháng l0- 1923, đã đọc bài tham luận nói lên tình cảnh nông dân Đông Dương đang bị thực dân Pháp bóc lột: “Quốc tế của các đồng chí chỉ trở thành một Quốc tế khi không những nông  dân ở Phương Tây, mà cả nông dân ở Phương Đông, nhất là nông dân ở các nước thuộc địa là những người bị áp bức và bóc lột nhiều hơn các đồng chí đều tham gia Quốc tế của các đồng chí. Nếu đem so sánh người nông dân Nga với người nông dân Việt Nam, người ta có ấn tượng rằng: Khi nông dân Nga đang ngồi thoải mái trên chiếc ghế bành, thì trong lúc đó, người nông dân Việt Nam đang bị treo ngược đầu xuống đất”(1). Trong bài “Tổ chức dân cày” ở cuốn Đường cách mệnh, Nguyễn Ái Quốc cũng chỉ rõ: “Vì sao phải tổ chức dân cày? Tây đồn điền choán ruộng thế nào? Chính phủ Pháp đãi dân cày An Nam thế nào? Muốn thoát khỏi vòng vây cay đắng ấy thì phải tổ chức nhau để kiếm đường giải phóng. Có ích cho dân cày, có lợi cho nòi giống”. Sau khi trở về Tổ quốc năm 1941, Bác viết bài thơ lục bát “Dân cày” đăng trên báo Cứu quốc (ngày 01-8-1941), lời thơ thống thiết, kêu gọi “Dân cày phải kiếm Việt Minh mà vào… Mai sau thực hiện chương trình: Việt Nam nông dã tất canh kỳ điền” (nghĩa là theo chương trình Việt Minh, nông dân ai cũng có ruộng cày)(2).

Với đường lối đúng đắn, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã đánh đuổi đế quốc, giành được độc lập, giải phóng dân tộc. Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong vòng vây của thù trong giặc ngoài. Để giữ vững nền độc lập non trẻ, chống giặc ngoại xâm, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chăm lo đến việc nâng cao dân trí, xóa nạn mù chữ. Người đặc biệt quan tâm tới việc học của các tầng lớp nhân dân lao động - những người chịu thiệt thòi nhiều nhất bởi chính sách “ngu dân” của chế độ thực dân phong kiến. Để mang lại quyền lợi thiết thực cho nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh bãi bỏ thuế khóa bất công của thực dân Pháp; đồng thời quy định giảm tô 25% cho nông dân, chia ruộng của bọn thực dân và ruộng công cho nông dân. Trong những năm vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, Người luôn chăm lo bồi dưỡng sức dân, nhất là đối với nông dân. Trong “Thư gửi nông dân thi đua canh tác” vào tháng 02-1951, Bác viết: “Thực túc thì binh cường! Chiến sĩ ở trước mặt trận thi đua giết giặc lập công thì đồng bào ở hậu phương phải thi đua tăng gia sản xuất. Ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sĩ, hậu phương thi đua với tiền phương”(3). Bức thư đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Bác với giai cấp nông dân và sản xuất nông nghiệp.

Tháng 01-1953, trong bài phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương lần thứ tư, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Nền tảng của vấn đề dân tộc là vấn đề nông dân, vì nông dân là tối đại đa số trong dân tộc. Nền tảng của cách mạng dân chủ cũng là nông dân, vì nông dân là lực lượng cách mạng đông nhất chống phong kiến, chống đế quốc”(4). Xác định vị trí, vai trò quan trọng của nông dân trong cách mạng, Người cho rằng chỉ lo “cơm ăn, áo mặc” cho họ thì chưa đủ, mà phải nâng cao dân trí cho họ, như thế họ mới được hưởng trọn vẹn độc lập, tự do. Người xem đói và rét đều là giặc, phải diệt giặc đói, diệt giặc dốt, bởi vì “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Quan trọng hơn, việc mang lại quyền lợi ruộng đất cho nông dân luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta xác định là một trong hai nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam.

Khi bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất - kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn nhắc nhở: Muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy việc sản xuất nông nghiệp làm gốc, làm chính. Tiến lên chủ nghĩa xã hội ở một nước nông nghiệp lạc hậu, nền sản xuất nhỏ, 90% dân số là nông dân, thực chất đây là một cuộc cách mạng nông dân, lực lượng nòng cốt là liên minh công - nông, do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo: “Nông dân ta đông người nhất, kinh tế nông nghiệp quan trọng nhất; nông dân ta đã anh hùng trong cách mạng, trong kháng chiến, trong cải cách ruộng đất, thì trong cuộc cách mạng biến đổi nông nghiệp từ thấp lên cao này nông dân ta cũng phải là anh hùng”(5). Phát biểu tại Đại hội Công đoàn tỉnh Thanh Hóa lần thứ VI ngày 19- 7-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa đất nước: “Nước ta là một nước nông nghiệp..., muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy nông nghiệp làm gốc. Nếu không phát triển nông nghiệp thì không có cơ sở phát triển công nghiệp vì nông nghiệp cung cấp nguyên liệu, lương thực cho công nghiệp và tiêu thụ hàng hóa của công nghiệp làm ra”(6). Như vậy, Người đã chỉ rõ, nông nghiệp là nhân tố đầu tiên, là cội nguồn giải quyết mọi vấn đề xã hội. Nếu nông nghiệp phát triển, lương thực, thực phẩm dồi dào, nông dân khá giả thì xã hội sẽ phồn vinh.

Để nông nghiệp phát triển, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến kế hoạch và sản xuất. Người cho rằng kế hoạch không nên tụt lại sau, nhưng cũng không nên chạy quá nhanh trước sự phát triển của công nghệ. Chúng ta cần phải tập trung tăng cường và đẩy mạnh phát triển các lĩnh vực về khoa học-công nghệ dựa trên một nền kinh tế nông nghiệp ổn định bởi “chỉ có liên hệ chặt chẽ với nông nghiệp, không rời xa sức tiết kiệm và ăn khớp với vốn liếng và sức hậu bị của ta - thì công nghệ mới làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của nó, là lãnh đạo và cải tạo kinh tế của quốc dân”(7). Tư tưởng Hồ Chí Minh về nông nghiệp không chỉ có giá trị về mặt lý luận, mà còn có giá trị thực tiễn hết sức sâu sắc. Trong quá trình lãnh đạo, Đảng ta đã vận dụng và phát triển tư tưởng nông nghiệp của Hồ Chí Minh để xây dựng thành đường lối phát triển kinh tế nói chung, đường lối phát triển nông nghiệp nói riêng qua các giai đoạn lịch sử, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Như nhiều nhà nghiên cứu đã nhận xét, Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà lý luận, làm lý luận theo một phong cách đặc biệt, là tấm gương về lý luận thực hành. Người là tấm gương sáng về việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Trong mọi thời điểm, Người luôn luôn sâu sát thực tế, xuất phát từ thực tế, đặc biệt là gắn bó với cơ sở, gần gũi với nhân dân. Không chỉ trong những năm kháng chiến chống giặc Pháp, Người mới tổ chức tăng gia sản xuất, mà khi về Thủ đô, Bác gợi ý anh em phục vụ cải tạo cái ao tù nước đọng trong khu Phủ Chủ tịch thành ao nuôi cá để cải thiện đời sống và làm cho môi trường thêm trong lành. Người nuôi rất nhiều cá, đã có thời gian các địa phương đến đây nhận cá giống về nuôi trong các ao cá Bác Hồ.

Ngay cả khi tuổi đã cao, Người thường xuống nông thôn, gặp gỡ bà con trên đồng ruộng, động viên bà con tích cực tăng gia, chăn nuôi. Bác đã tát nước gầu sòng, đạp guồng đưa nước vào ruộng, hoàn toàn không có sự cách biệt giữa Chủ tịch nước với bà con nông dân địa phương. Từ năm 1958 đến năm 1960 - thời kỳ bước đầu hợp tác hoá nông nghiệp, Người đã 6 lần đích thân xuống địa phương xem xét thực tiễn sản xuất nông nghiệp; 11 lần tham dự hội nghị tổng kết kinh nghiệm về xây dựng hợp tác xã, về thuỷ lợi, về khoa học kỹ thuật; Người đã cho nhiều huấn thị thiết thực và kêu gọi mọi người hăng hái tham gia hợp tác và mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật trong canh tác(8). Người rất quan tâm đến thời vụ sản xuất và đã có nhiều bài viết đăng báo về nội dung này như: bài “Phải cấy chiêm xong trước tết” (bút danh T.L), đăng Báo Nhân dân ngày 15-1-1967, bài “Đáng phê và đáng khen”, ký bút danh Chiến Sĩ, đăng báo Nhân dân, số 4674 dẫn lại tin trên báo Thủ đô Hà Nội (số ra ngày 21,22-1-1967) về công tác phòng chống rét cho trâu bò... Người đã viết thư khen nhiều xã viên, hợp tác xã nông nghiệp làm ăn giỏi và thưởng huy hiệu cho những tập thể, cá nhân xuất sắc. Đồng thời Người cũng phê bình trên báo một số bộ, ngành, một số xã, hợp tác xã làm ăn kém cỏi, đùn đẩy trách nhiệm, gây nên hệ quả là “dân cần quan không vội”!
Những nǎm tháng cuối đời, tuy sức khoẻ yếu nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành nhiều thời gian làm việc với các đồng chí phụ trách nông nghiệp. Khi họp Bộ Chính trị hay trong các buổi làm việc về nông nghiệp, Người thường nhắc bản Điều lệ Hợp tác xã. Bác bảo công nhân có ngày kỷ niệm thì nông dân cũng phải có ngày kỷ niệm và nên lấy ngày ban hành Điều lệ Hợp tác xã làm ngày kỷ niệm cho nông dân. Bác dặn viết bản Điều lệ sao cho nông dân ít học cũng hiểu được. Đến tận những ngày tháng Chủ tịch Hồ Chí Minh sắp đi xa, dù mệt nặng nhưng Người vẫn theo dõi mực nước các triền đê và căn dặn các địa phương phải quyết tâm giữ vững đê, bảo vệ dân, bảo vệ sản xuất.

Và trong bản Di chúc lịch sử để lại cho muôn đời sau, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò quan trọng của người nông dân và trân trọng đề nghị miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho nông dân: “Trong bao năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân  đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta, ra sức góp của góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn gian khổ. Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp một năm cho các hợp tác xã nông nghiệp cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”(9). Đây không chỉ là mối quan tâm đặc biệt của Người tới một lực lượng, một ngành kinh tế quan trọng tạo ra sức người, sức của cho cuộc kháng chiến kiến quốc cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mà còn là sự kế thừa truyền thống tốt đẹp của cha ông. Dân tộc ta đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm bảo vệ nền độc lập dân tộc. Sau mỗi lần chiến thắng, ông cha ta lại có kế “khoan thư sức dân” để bồi dưỡng lực lượng. Chính vì thế, trước khi vĩnh biệt chúng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn chưa yên lòng, vì biết rằng sau ngày đất nước toàn thắng, nhân dân ta, “đồng bào nông dân” đời sống còn gặp nhiều khó khăn. Người căn dặn miễn thuế cho nông dân, để họ được “hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi”, tiếp bước trên chặng đường cách mạng, đẩy mạnh sản xuất, “chuẩn bị kế hoạch xây dựng nông thôn mới”.

Thực hiện theo Di chúc của Người, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 7 đã ra Nghị quyết “Thực hiện miễn thuế nông nghiệp theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Miễn giảm thuế nông nghiệp tiến tới hạn chế và xoá bỏ dần những đóng góp ở khu vực nông thôn để người nông dân có điều kiện tái đầu tư sản xuất chính là chủ trương của Đảng và Nhà nước ta thực hiện theo đúng tinh thần và mong muốn của Người. Năm 2008, Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết về nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Theo đó, vấn đề “tam nông” đã được đặt trong mối quan hệ phát triển toàn diện, hài hoà, đồng bộ với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất  nước. Người nông dân, với tư cách là chủ thể trong mối quan hệ nông dân - nông nghiệp - nông thôn được Nhà nước hỗ trợ và ưu tiên trong mọi chương trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Tại Lễ khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VII diễn ra ngày 12-12-2018, Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu: “Đảng và Nhà nước ta đã xác định: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh - quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã định hướng “xây dựng nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; nâng cao giá trị gia tăng, đẩy mạnh xuất khẩu”(10). Trong bài phát biểu, Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cũng đã trích câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nông dân ta giàu thì nước ta giàu, nông dân ta thịnh thì nước ta thịnh”.

Những lời căn dặn đầy tâm huyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nông dân, nông nghiệp, nông thôn đã được Đảng và Nhà nước ta kiên trì thực hiện trong suốt 50 năm qua. Kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc của Người cũng là dịp để chúng ta nhìn rõ những điều còn chưa làm được, những khuyết điểm trong quá trình thực hiện, để tiếp tục xây dựng nền nông nghiệp Việt Nam hiện đại, xây dựng nông thôn Việt Nam văn minh, giàu đẹp và xây dựng người nông dân mới làm chủ khoa học kỹ thuật và có trình độ văn hoá cao.

Chú thích:
1.         Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t. 1, tr. 229.
2.         Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t. 3, tr. 238.
3.         Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t. 7, tr. 44.
4.         Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t. 8, tr. 31.
5.         Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t. 11, tr. 417.
6.         Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t. 12, tr. 635.
7.         Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t. 6, tr. 499.
8.         Viện sử học: Nông dân Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Khoa học xã hội, H.1979, tr. 197.
9.         Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch: Bác Hồ viết tài liệu Tuyệt đối bí mật, Nxb. Lý luận chính trị, H. 2008, tr. 31, 32.
10.       Theo báo điện tử Kinh tế và Đô thị, ngày 12-12-2018