Hội nghị Giơnevơ – Sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cuộc đấu tranh trên bàn đàm phán của ngoại giao của Việt Nam

 
Th.s Lường Thị Lan
Phòng ST- KK- TL
Đông Xuân 1953-1954, Cuộc chiến tranh của nhân dân ta chống thực dân Pháp đang bước vào giai đoạn chiến đấu ác liệt trên chiến trường. Đảng và Nhà nước ta mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương mở ra mặt trận đấu tranh ngoại giao bên cạnh mặt trận quân sự, nhằm đấu tranh đi đến thắng lợi cuối. Ngày 26/11/1953, khi trả lời phỏng vấn báo Thụy Điển Expressen, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định lập trường và chủ trương của Việt Nam về đàm phán như sau: “…Cở sở của việc đình chiến ở Việt Nam là chính phủ Pháp thật thà tôn trọng nền độc lập thực sự của nước Việt Nam…”(1). Cuối tháng 5/1954, tại cuộc họp Bộ Chính trị bàn về chủ trương đàm phán ở Hội nghị Giơnevơ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Ta kháng chiến, ta đàm phán cũng đều nhằm một mục đích giành độc lập, thống nhất cho dân tộc… Giải quyết vấn đề là phải có quan điểm toàn cục. Trong Hội nghị Giơnevơ ít nhất phải tranh thủ được thắng lợi chính trị”(2).
Trong bối cảnh phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ, đặc biệt ở Đông Dương, tạo thành làn sóng đe dọa sự tồn vong và phát triển của chủ nghĩa thực dân ở phương Tây. Trước tình hình đó buộc Mỹ can thiệp sâu hơn vào châu Á, trực tiếp đó là chiến tranh Triều Tiên và ủng hộ Pháp ở Đông Dương, cố sức giữ cho được Đông Dương không rơi vào tay cộng sản để sau này có cơ hội hất cẳng Pháp, biến Đông Dương thành thuộc địa mới của Mỹ. Ở Liên Xô sau khi Xtalin qua đời, Khơrútsốp thực hiện chủ trương hòa hoãn với phương Tây, trước hết là Mỹ làm dịu tình hình thế giới để tranh thủ phục hồi và phát triển đất nước và nhường cho Trung Quốc giữ vai trò chính trong việc giải quyết các vấn đề Viễn Đông. Vì thế, trong cuộc Hội nghị Tứ cường ở Béclin (từ 25/1/1954 đến 18/2/1954), đã quyết định triệu tập hội nghị Giơnevơ kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương và Liên Xô đã gợi ý để có sự tham gia của Trung Quốc trong hội nghị họp bàn về vấn đề Triều Tiên và vấn đề hòa bình ở Đông Dương.
Hội nghị Giơnevơ được triệu tập bởi ý đồ của các nước lớn nhằm giải quyết các vấn đề chiến tranh ở Đông Dương trên bàn đàm phán. Thành phần tham dự Hội nghị gồm có 9 bên, trong đó 6 phái đoàn của đối phương: Anh, Pháp, Mỹ, 3 phái đoàn chính phủ bù nhìn của Pháp ở Đông Dương. Việt Nam là đại diện duy nhất của lực lượng kháng chiến ở Đông Dương. Đại diện lực lượng kháng chiến của Lào và Campuchia không được tham dự Hội nghị. Hai đồng minh của Việt Nam tại Hội nghị là Liên Xô và Trung Quốc. Từ thành phần tham dự Hội hội nghị cho thấy Việt Nam yếu thế và đơn độc trên bàn Hội nghị.
Đến với Hội nghị Giơnevơ các nước tham dự đều có những toan tính riêng, nhằm đảm bảo được quyền lợi chính trị và thể hiện tầm ảnh hưởng của mình trong vấn đề giải quyết chiến tranh ở Đông Dương. Đối với Pháp đang muốn thoát ra khỏi chiến tranh Đông Dương trong danh dự. Một hội nghị quốc tế với nhiều bên tham dự sẽ là cơ hội tốt nhất để Pháp đạt được một số giải pháp có lợi nhờ sự ủng hộ của các nước đồng minh và biết khai thác ý đồ Liên Xô và Trung Quốc, đồng thời tránh phải đàm phán trực tiếp với Việt Nam đang trong tư thế là người chiến thắng. Chính sách của Anh là ủng hộ Pháp trong khả năng có thể, tránh một cuộc can thiệp tập thể vào Đông Dương mà Anh có thể bị lôi cuốn. Giải quyết vấn đề Đông Dương làm dịu đi tình hình ở Viễn Đông có lợi cho Anh và các nước đồng minh ở khu vực châu Á. Mỹ đến Hội nghị với mục tiêu là ngăn cản một giải pháp có lợi cho phe xã hội chủ nghĩa và có hại cho âm mưu cuả Mỹ muốn thay thế Pháp thống trị ở Đông Dương. Và thực tế trong diễn biến Hội nghị Mỹ tỏ rõ thái độ ngoan cố và phá hoại khi tuyên bố Mỹ không tham gia vào bản Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị. Liên Xô là nước đưa ra sang kiến triệu tập hội nghị với mục đích thúc đẩy hòa bình và hòa hoãn quốc tế, giảm căng thẳng ở Viễn Đông, củng cố lực lượng trong nước đồng thời kéo Trung Quốc vào hội nghị nhằm củng cố quan hệ đồng minh chiến lược giữa hai nước. Trong khi đó Trung Quốc tham gia hội nghị với những toan tính rất lớn. Mục tiêu của Trung Quốc khi tham gia Hội nghị là nhằm nhanh chóng dập tắt ngọn lửa chiến tranh ở biên giới phía Nam, đẩy Mỹ ra xa biên giới, mở rộng quan hệ quốc tế, phá thế bao vây của Mỹ; đồng thời xây dựng sự tin tưởng với Liên Xô, nâng cao vị thế cường quốc và thiện chí hòa bình của Trung Quốc. Đồng thời hạn chế thắng lợi của Việt Nam, chia rẽ nhân dân ba nước Đông Dương, hòng làm suy yếu và thôn tính ba nước đó, dùng làm bàn đạp bành trướng xuống Đông Nam châu Á. 
Trước ngày Hội nghị khai mạc, chúng ta đã giành thắng lợi quân sự to lớn ở Điện Biên Phủ, buộc Pháp phải đầu hàng trên chiến trường chính Bắc Bộ. Vì vậy chúng ta đến với Hội nghị Giơnevơ trên tư thế của người chiến thắng, nắm quyền chủ động trên chiến trường Đông Dương. Thay mặt Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa tham dự Hội nghị Giơnevơ do Phó Thủ tướng kiêm quyền Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Văn Đồng làm trường đoàn. Trước khi lên đường tham dự Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn phái Đoàn: “Ta đã thắng to về mặt quân sự, ta sẽ thắng to hơn về mặt ngoại giao. Thế giới sẽ biết Việt Nam; chúng ta sẽ có đầy đủ tính pháp lý quốc tế về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đề giành thắng lợi hoàn toàn. Các chú phải đàm phán trên tư thế của quân đội chiến thắng”(3). Đồng thời Người cũng nêu lên tư tưởng chỉ đạo cho việc đàm phán: “Ta phải phân biệt lợi ích trước mắt và lợi ích tương lai, lợi ích bộ phận và lợi ích toàn bộ…”. Đồng thời Người nhắc nhở tránh “những tư tưởng sai lầm có thể nảy ra như: “tả khuynh” có người thấy thắng luôn, muốn đánh bừa, đánh đến cùng, họ chỉ thấy cây không thấy rừng, chỉ thấy Pháp rút quân mà không thấy âm mưu của chúng, chỉ thấy Pháp không thấy Mỹ, thiên về tác chiến, xem khinh ngoại giao”(4). Đến với Hội nghị chúng ta tỏ rõ lập trường của Việt Nam là đi tới một giải pháp hoàn chỉnh: đình chỉ chiến sự trên toàn bán đảo Đông Dương đi đôi với một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam, vấn đề Lào và vấn đề Campuchia trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước ở Đông Dương.
Hội nghị Giơnevơ bắt đầu họp từ ngày 8/5/1954 và kết thúc ngày 21/7/1954, trải qua 75 ngày thương lượng, có tất cả 8 phiên họp mở rộng và 23 phiên họp cấp trưởng đoàn. Trong phiên họp đầu tiên, đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng nêu vấn đề đại diện của Khơme Itsarak và Pathét Lào, nhưng kết quả không nhận được sự đồng thuận của các bên tham gia Hội nghị. Vì vậy chúng ta đã mất đi những đồng minh quan trọng để có thể phối hợp với cuộc đấu tranh trên bàn Hội nghị vì mục tiêu chung của ba nước Đông Dương.
Trong quá trình diễn biến Hội nghị, chúng ta kiên trì đấu tranh giữ vững nguyên tắc cơ bản là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, hòa bình và dân chủ. Điều này được thể hiện trong lập trường 8 điểm (ngày 10/5), trong đó ta yêu cầu giải quyết song song hai vấn đề quân sự và chính trị: về quân sự: ngừng bắn trên toàn cõi Đông Dương; về chính trị: giải pháp là thống nhất đât nước và phải có giải pháp chính trị kèm theo tại mỗi nước. Mặt khác với thái độ thực tế, ta phối hợp chặt chẽ với các đoàn Liên Xô và Trung Quốc, có sách lược mềm dẻo nhằm phân hóa nội bộ đối phương, thúc đẩy hội nghị tiến triển. Khi cả Chu Ân Lai và Môlôtốp đều ủng hộ lập trường 8 điểm của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là giải quyết đồng thời cả ba vấn đề Việt Nam, Lào và Campuchia và nêu lên điều kiện để đi vào giải pháp là Pháp phải chấm dứt chiến tranh, Mỹ chấm dứt can thiệp vào cuộc xung đột ở Đông Dương, buộc các bên tham gia phải tán thành.
Cuối tháng 6 đầu tháng 7/1954, Hội nghị diễn ra nhiều sự kiện quan trọng, đáng chú ý là các hoạt động và tiếp xúc của các trưởng đoàn, các cuộc gặp gỡ tại thủ đô liên quan để bàn về vấn đề phân chia giới tuyến tập kết ở ba nước Đông Dương. Về vấn đề này phái Đoàn ta đề nghị giới tuyến quân sư tạm thời của hai khu tập kết đặt ở vĩ tuyến 13 tức là phía Nam thị xã Tuy Hoà. Nhưng Pháp muốn giới tuyến quân sự ở vĩ tuyến 19 hoặc ít nhất phải 18. Bởi vĩ tuyến 17 hay 16 có một tầm quan trọng chiến lược trọng yếu. Giữa hai vĩ tuyến đó có Quốc lộ số 9 nối Lào với bờ biển Việt Nam. Thực dân Pháp muốn giữ Quốc lộ 9 để duy trì sự kiểm soát đối với Lào. Tại Hội nghị “người Pháp tìm mọi cách để có được con đường này. Chính tại cuộc gặp gỡ ở Bécnơ giữa Chu và Măngđét Phrăng, người Trung Quốc đã nhượng bộ”(5) để đi đến nhất trí về vấn đề quan trọng nhất là vạch ra vĩ tuyến nào để chia cắt Việt Nam.
Đi đôi với việc lập các khu tập kết, phái Đoàn ta đặc biệt nhấn mạnh vấn đề chính trị, nghĩa là Pháp phải thật sự thừa nhận độc lập thống nhất chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia. Hoạt động của phái đoàn ta diễn ra khẩn trương với các phiên họp mở rộng và hẹp, các cuộc tiếp xúc và làm việc với các Đoàn Liên Xô, Trung Quốc để phối hợp tìm phương án và giải pháp. Tuy nhiên hoạt động của Đoàn ta cũng gặp nhiều khó khăn và hạn chế do ta còn phải đối phó với những toan tính và sự dàn xếp của các nước lớn, kể cả trong phe ta về giải pháp chính trị, nhất là về giới tuyến và thời hạn tổng tuyển cử. Đặc biệt Mỹ luôn tìm cách phá hoại Hội nghị. Từ chỗ miễn cưỡng tham gia Hội nghị rồi ép Anh, Pháp phải bỏ Hội nghị với lý do phe cộng sản không thương lượng nghiêm chỉnh, không chịu tách vấn đề Lào, Campuchia ra khỏi vấn đề Việt Nam. Hội nghị đi vào bế tắc khi các bên tham gia không tìm được tiếng nói chung.
Trước sự bế tắc khi các bên không tìm được tiếng nói chung ngày 3/7/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến Liễu Châu gặp Chu Ân Lai bàn về các vấn đề: phân vùng, thời hạn tổng tuyển cử, vấn đề Lào và Campuchia. Tại buổi gặp gỡ Chu Ân Lai đã trình bày về tình hình diễn biến tại hội nghị Giơ ne vơ, thái độ ngoán cố của Chính phủ Pháp và sự tiêu cực của Mỹ. Yêu cầu hiện nay là phân chia ranh giới tạm thời nên châm chước một chừng mực để tranh thủ cơ sở pháp lý cho một cuộc tổng tuyển cử hòa bình thống nhất hai miền Nam Bắc Việt Nam trong vòng hai năm. Nếu ta có chính sách khôn khéo, tổng tuyển cử sẽ giành thắng lợi. Trước đây Pleven khăng khăng đòi lấy vĩ tuyến 18 làm ranh giới tạm thời nhưng trước sự đấu tranh của ta, Măng đét Phrang và Anh, Mỹ đã đồng ý rút xuống vĩ tuyến 17. Trước những báo cáo và phân tích tình hình Hội nghị của Chu Ân Lai, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Với so sánh lực lượng trên thực tế chiến trường hiện nay, ta đề ra vĩ tuyến 13 là hợp lý, vĩ tuyến 17 đối với ta là không thể chấp nhận được, chí ít cũng phải vĩ tuyến 16. Trước đây đã có tiền lệ khi Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật ở hai miền Nam Bắc Đông Dương cũng lấy vĩ tuyến 16 làm ranh giới tạm thời”. Chính những nhận định quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chu Ân Lai đồng ý với Người nhưng vẫn thể hiện rõ tư tưởng nhượng bộ: “Tôi sẽ bàn với đồng chí Môlôtốp hết sức cố gắng thực hiện chỉ thị của Hồ Chủ tịch. Vì ở xa không có điều kiện trao đổi, nếu việc đấu tranh để xác định ranh giới tạm thời gặp khó khăn, vạn bất đắc dĩ phải chọn vĩ tuyến 17, mong Hồ Chủ tịch chú ý vấn đề quan trọng nhất hiện nay là tranh thủ cho được hòa bình và những điều kiện hoàn bình thống nhất cho Việt Nam”. Ngay khi nghe Chu Ân Lai kết luận, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định rằng “Liên Xô và Trung Quốc đều ngại chiến tranh kéo dài, muốn đạt được thỏa thuận với Pháp”(6).
Và đúng như nhận định của Người khi Chu Ân Lai chủ động gặp gỡ trao đổi với đại diện phái đoàn Pháp ngày 19/7, tỏ rõ rằng Trung Quốc đến Giơnevơ trước hết là để bảo vệ lợi ích của chính mình chứ không phải lợi ích của các lực lượng cách mạng Đông Dương. Phiên họp ngày 20/7, sau nhiều nỗ lực đấu tranh nhưng không được sự giúp đỡ của Trung Quốc và Liên Xô, phái Đoàn Việt Nam chấp nhận lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới phân chia tạm thời. Đối với Lào ta đấu tranh cho bạn đòi chia giới tuyết tập kết dọc đất nước, trong đó lực lượng kháng chiến Lào tập kết ở phía đông đất nước. Nhưng cuối cùng chỉ đạt được thỏa thuận tập kết lực lượng Pathét Lào ở phía Đông Bắc là Sầm Nưa và Phông Salỳ. Hội nghị không đạt được thỏa thuận tập kết cho lực lượng Khơme Itsarak, buộc lực lượng này phải giải tán.
Gắn liền với vấn đề xác định giới tuyến là việc quy định thời gian tuyển cử. Tất cả mọi người dự hội nghị đều đồng ý về nguyên tắc rằng tuyển cử sẽ được tiến hành sau khi cách ly các lực lượng chiến đấu. Phái Đoàn ta muốn tuyển cử ở Việt Nam được tiến hành càng sớm càng tốt. Thời gian là sáu tháng hoặc muộn nhất là một năm sau ngày ngừng bắn. Trong khi Pháp muốn tuyển cử bị trì hoãn càng lâu càng tốt, cũng như họ muốn giới tuyến càng bị đẩy lên phía Bắc càng tốt. Về vấn đề này Trung Quốc và Liên Xô tiếp tục nhân nhượng Pháp. Cuối cùng Trung Quốc đưa ra thời hạn là hai năm, các bên đồng ý và chập nhận. Đêm ngày 20 rạng ngày 21/7/1954, Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được ký kết.
Hiệp định Giơnevơ cùng với chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương trên cơ sở các nước tham gia Hội nghị công nhận và cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Đánh giá kết quả đạt được tại Hội nghị Giơnevơ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “…Hội nghị Giơnevơ đã kết thúc. Ngoại giao ta đã thắng to”(7). Thắng lợi của Hiệp định Giơnevơ trước hết sự thắng lợi to lớn của quân và dân ta trên chiến trường, là sự đấu tranh kiên cường, khôn khéo của Đoàn đại biểu Chính phủ ta tại Hội nghị, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Xét trong bối cảnh đó, những kết quả đạt được của Hội nghị Giơnevơ đã có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cả trong nước và quốc tế. Các nước tham gia Hội nghị công nhận và cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia bằng văn bản pháp lý quốc tế. Đối với Việt Nam miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, tạo cơ sở vững chắc cho thống nhất nước nhà. Hiệp định Giơnevơ đánh dấu sự thắng lợi của đường lối kháng chiến toàn diện của Đảng ta trên tất cả các mặt chính trị, quân sự và ngoại giao. Hiệp định Giơnevơ được ký kết còn có ý nghĩa quốc tế và mang tính thời đại sâu sắc. Đây là lần đầu tiên một dân tộc thuộc địa, đất không rộng, người không đông, kinh tế lạc hậu đánh thắng quân đội xâm lược một cường quốc phương Tây, đồng thời buộc họ phải đặt bút ký vào văn bản có tính phá lý quốc tế công nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam. Chính sự thắng lợi này đã báo hiệu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ, đồng thời cổ vũ phong trào đấu tranh giành độc lập ở các nước thuộc địa Á, Phi và Mỹ la tinh. Hiệp định Giơnevơ được ký kết cũng làm dịu đi tình hình cẳng thẳng ở khu vực, và trên thế giới, mở đầu cho thời kỳ hòa hoãn của chiến tranh lạnh.
Bên cạnh đó chúng ta cũng nhìn nhận thẳng thắn những điểm hạn chế trong nội dung Hiệp định Giơnevơ khi đất nước bị chia cắt, thời gian tổng tuyển cử hai năm là quá dài tạo điều kiện cho đế quốc Mỹ thế chân Pháp ở Đông Dương,… Nội dung Hiệp định chưa thực sự phản ánh đúng tình hình trên chiến trường Đông Dương, thắng lợi lớn nhưng là chưa triệt để, chưa xứng tầm với thắng lợi quân sự trên chiến trường. Nhưng kết quả cũng như một số mặt hạn chế của Hiệp định Giơnevơ sau những cuộc đấu tranh quyết liệt của phái Đoàn ta tại bàn Hội nghị và những dàn xếp, toan tính của các nước lớn phần nào phản ánh xu thế hòa hoãn cũng như tương quan lực lượng giữa hai phe lúc đó. Vì vậy, ngay sau Hội nghị Giơ-ne-vơ kết thúc, ngày 22/7/1954, từ chiến khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Lời kêu gọi đồng bào, cán bộ, chiến sỹ ra sức củng cố nền hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong toàn quốc.
Tuy vậy, quá trình đấu tranh để đi đến ký kết Hiệp định Giơnevơ đã để lại nhiều bài học quý giá trên mặt trận đấu tranh ngoại giao trong Hội nghị Pari năm 1972 và đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi công tác ngoại giao là một mặt trận quan trọng trong đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ cũng như là cầu nối giao lưu, hợp tác và phát triển giữa Việt Nam với các quốc gia trên thế giới. Một số bài học rút ra đó là: Một là, giữ vững nguyên tắc độc, lập tự và chủ toàn vẹn lãnh thổ trong đấu tranh đối ngoại theo tư tưởng Hồ Chí Minh với phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Người, nguyên tắc độc lập, tự chủ, toàn vẹn lãnh thổ phải luôn giữ vững nhưng phải hết sức linh hoạt, thiên biến vạn hóa trong các biện pháp đấu tranh để giành được mục tiêu cao nhất. Hai là, hoạt động đối ngoại phải dựa trên cơ sở sức mạnh bên trong - sức mạnh toàn dân, gồm sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, sức mạnh về kinh tế, chính trị, quân sự và văn hoá của đất nước - đó là sức mạnh tổng hợp quốc gia (là thực lực) mà theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì “thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”(8). Ba là đoàn kết quốc tế để giải quyết những vấn đề giữa các quốc gia liên quan đặc biệt những nước có đường biên giới, có quyền lợi gắn chặt nhau. Cuối cùng đó là bài học về việc đánh giá đúng tình hình, bối cảnh quốc tế và ý đồ của các nước lớn, “phải biết mình biết người” để có những ứng xử khôn khéo, thông minh, linh hoạt trong quan hệ với các nước đặc biệt các nước lớn, “thêm bạn, bớt thù” vừa có thể lôi kéo được sự ủng hộ, đồng tình Việt Nam trong đấu tranh ngoại giao.
60 năm đã trôi qua nhưng đấu tranh ngoại giao trên bàn đàm phán của Việt Nam Hội nghị Giơnevơ vẫn còn nguyên giá trị lịch sử và tính thời sự, nhất là những bài học kinh nghiệm được rút ra cho chúng ta ngày hôm nay. Những bài học đó phải được phát huy một cách tốt nhất để hoạt động đối ngoại trở thành một mặt trận, một vũ khí sắc bén trong nhiệm vụ giữ gìn, bảo vệ nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam nói riêng và xây dựng một nền hòa bình chung của nhân loại.
 
Chú thích:
1. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H.2001, tập 14, tr518.
2. Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Nxb CTQG, H.2007, tr455.
3. Điện Biên Phủ - Giơnevơ, Nguyễn Thành Lê, Báo Điện tử Đảng cộng sản Việt Nam.
4, 5. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện toàn tập, Nxb CTQG, H.2001, tập 15, tr170, tr2
6. Tam giác Trung Quốc - Việt Nam - Campuchia (Winfred Burchett), lichsuhuyenbivietnam.blogspot.com
7. Võ Nguyên Giáp – Tổng tập hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, H.2011, tr.1114.
8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, t.4, Hà Nội, 1995, tr. 126