Một số chuyện kể về sức khỏe của Bác Hồ

Đặng Quang Huy
Phòng ST - KK - TL
 
          Trong cả cuộc đời và trong quá trình hoạt động cách mạng cho đến lúc về với cõi vĩnh hằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm, rèn luyện, giữ gìn sức khỏe. Là người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh có vai trò lớn nhất đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Hơn ai hết, Người hiểu rõ sức khoẻ của mình có mối quan hệ mật thiết đối với cách mạng nên Người luôn phấn đấu kiên trì cho việc gìn giữ, nâng cao sức khoẻ bằng mọi cách, mà chủ yếu là việc tập thể dục, thể thao. Việc gì tự mình làm được, Bác đều tự làm mà không thích ỷ lại vào anh em phục vụ. Rất nhiều anh em cảnh vệ, kể cả đồng chí Hoàng Hữu Kháng (người trực tiếp bảo vệ Bác từ năm 1945 đến năm 1951) cũng cho biết khi Bác đi công tác hoặc khi Bác tập leo đồi, leo núi, nửa chừng đồng chí Kháng đưa tay phải ra để tay trái của Bác có thể vịn vào đi cho vững nhưng Bác không đồng ý. Qua đó, chúng ta thấy Bác là một con người có ý chí rèn luyện và giữ gìn sức khỏe rất cao.
          Tuy vậy, cũng như mọi con người khác, trong cuộc đời Bác cũng có những lúc Người bị ốm nặng.
Trong thời gian ở Pháp, ngày 21/8/1920, Nguyễn Ái Quốc ốm, phải vào nằm điều trị tại bệnh viện Bệnh viện Côsanh (Cochin) ở 27 phố Phôbua. Ngày 20/9, lúc 9 giờ 10 Người đến Bệnh viện Côsanh để chữa nhọt ở tay. Từ ngày 14/1/1921 Nguyễn Ái Quốc vào điều trị tại Bệnh viện Côsanh để mổ một áp xe ở vai. Ca mổ được tiến hành ngày 19/1. Ngày 20/1 đã có nhiều người vào thăm Người, trong đó có cả ông Vinhê Đốctông (Vigné d’Octon). Ông này đã từng viết một số bài viết về Đông Dương và Nguyễn Ái Quốc đã có những bài viết đáp trả lại. Vì thế, giữa Nguyễn Ái Quốc và Vinhê Đốctông có quan hệ đặc biệt. Ngày 31/1, cụ Phan Châu Trinh và các ông Trần Tiến Nam, Võ Văn Toàn, Ba Sóc đã vào thăm Nguyễn Ái Quốc ([1]).
Như vậy, từ ngày 19/1/1921 đến tháng 2/1921, Nguyễn Ái Quốc phải nằm viện. Tuy bị ốm nhưng Nguyễn Ái Quốc vẫn cố gắng và quyết tâm thực hiện hai việc: Một là, ngày 21/2/1921, nghe tin ông Phan Châu Dật là con trai cụ Phan Châu Trinh mất, Nguyễn Ái Quốc đã viết thư gửi cụ Phan Châu Trinh chia buồn. Hai là, ngày 26/2/1921, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi đồng bào ở Marseille, trong thư viết rất rõ: Tôi xin lỗi đã không trả lời thư ngay, vì lẽ tôi chưa hoàn toàn khỏi bệnh, vì vậy đâm ra lười biếng. Hiện nay tôi vẫn còn ở trong bệnh viện và nằm trên giường viết thư này. Tôi chắc là đồng bào sẵn lòng miễn thứ cho...([2]). Ngày 3/3/1921, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi cho người Việt Nam ở Marseille. Tất cả những bức thư này Nguyễn Ái Quốc đều viết “đồng bào thân mến”. Đến ngày 25/3/1921 Nguyễn Ái Quốc mới ra viện. Như vậy, từ ngày 14/1/1921 đến ngày 25/3/1921 Nguyễn Ái Quốc đã nằm bệnh viện hơn 2 tháng. Vừa ra khỏi bệnh viện, Nguyễn Ái Quốc đã đến ngày trụ sở báo Người Tự do để lấy một số báo gửi cho bạn mình ở Marseill mà Nguyễn Ái Quốc thường gọi là “đồng bào”.
Những năm tháng bị bắt và bị tù đày ở Hồng Kông, qua tài liệu theo dõi của mật thám và thời gian Nguyễn Ái Quốc rời Pháp đi Nga thì chưa có tài liệu nào nói Người bị ốm. Cho đến sự kiện Người bị bắt ở Hồng Kông thì lúc này Nguyễn Ái Quốc bị ốm, thậm chí lúc bấy giờ có báo đã đưa tin Nguyễn Ái Quốc đã chết: Ngọ báo ngày 3/7/1932, báo Đông Pháp ngày 3/7/1932, báo Đuốc Nhà Nam ngày 23/7/1932, báo L’humanité của Pháp ngày 9/8/1932 đều đưa tin Nguyễn Ái Quốc chết.
Nguyễn Ái Quốc bị bắt ở Hồng Kông ngày 6/6/1931, đến đầu xuân năm 1933 mới ra tù. Đầu tháng 11/1931, Nguyễn Ái Quốc bị ốm nặng. Theo đề nghị của luật sư Lôdơby, Nguyễn Ái Quốc được chuyển từ ngục Victoria sang bệnh xá của nhà tù để chữa bệnh. Điều này được căn cứ dựa vào bài viết của luật sư Lôdơby và bức thư của Thái tử Cường Để viết ngày 17/12/1931 được gửi từ Nhật cho Nguyễn Ái Quốc. Bức thư được viết bằng chữ Hán, rất ngắn gọn: Gửi đồng chí Nguyễn Ái Quốc!
Tôi vừa biết đồng chí ốm nặng tại Hồng Kông và tin này làm cho tôi vô cùng lo lắng. Cho phép tôi gửi đồng chí kèm theo đây 300 yên để đồng chí mua thuốc men. Mong đồng chí tích cực chữa bệnh. Điều đó cần cho sự nghiệp của Tổ quốc. Chúc đồng chí sớm bình phục. Thái tử Cường Để đã ký tên thật của mình là Phúc Dân.
Vì Nguyễn Ái Quốc bị ốm nên luật sư Lôdơby đã can thiệp để Người không phải ở nhà tù nữa mà chuyển đến bệnh xá của nhà tù chữa bệnh.
Năm 1942, Nguyễn Ái Quốc bị bắt và trải qua các nhà lao của Tưởng Giới Thạch ở Quảng Tây - Trung Quốc. Hơn một năm trời, bị giải qua hơn 30 nhà lao của 13 huyện của tỉnh Quảng Tây, Người phải trải qua những ngày tháng bị giam cầm thiếu thốn, khổ cực, đầy bệnh tật, như Bác đã viết: Răng rụng mất một chiếc - Tóc bạc thêm mấy phần - Gầy đen như quỷ đói - Ghẻ lở mọc đầy thân. Mắt Bác bị mờ, chân bị yếu và không bước đi được.
Những năm tháng ở Tân Trào - Tuyên Quang, có nhiều lúc Người lâm bệnh nặng, tưởng chừng không qua khỏi. Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người luôn ở bên Bác thời kỳ này: Hồi tháng 7/1945, giữa lúc khí thế Tổng khởi nghĩa đang dâng trào thì Bác Hồ bị ốm nặng, lúc tỉnh lúc mê. Tôi làm việc tại gia đình ông Hoàng Trung Dân ở dưới làng Tân Lập nên thường lên lán Nà Lừa báo cáo công việc với Bác. Hôm ấy, thấy Bác đang lên cơn sốt, miệng toàn nói mê, thuốc men chẳng có gì ngoài mấy viên thuốc cảm và ký ninh, uống chẳng thấy đỡ. Hiện tượng khác thường, chưa thấy ở Bác bao giờ. Lo quá, tôi xin được ngủ lại với Bác. Đêm ấy, tỉnh dậy sau cơn sốt, Người dặn dò như trăng trối: Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải cương quyết giành cho được độc lập. Trong hồi ký của Đại tướng, có ghi rõ: Hôm sau, tôi viết thư hỏa tốc về Trung ương, tìm hỏi bà con địa phương xem có thuốc men gì không. Bà con nói gần đây có một ông lang chữa bệnh sốt nóng giỏi. Tôi cho người cưỡi ngựa đi đón ông thầy về. Ông lang già người Tày đến xem mạch, sờ trán Bác, rồi cho Bác ăn một thứ củ vừa đào trong rừng về, đem đốt cháy hòa vào cháo loãng. Bác tỉnh, hôm sau ăn thêm mấy lần với cháo loãng nữa, cơn sốt nhẹ dần. Bác lại ngồi dậy làm việc được.
Ngoài cụ lang người Tày, Đại tướng còn dẫn một y tá đến tiêm thuốc chữa bệnh cho Bác. Đó là ông Nguyễn Việt Cường (tên thật là Nguyễn Đức Kính, sinh năm 1925, ở làng Khau Chủ, xã Đông Viên, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn). Nhắc đến câu chuyện chữa bệnh cho Bác Hồ ở Tân Trào trước ngày Tổng khởi nghĩa, ông Cường bồi hồi xúc động: Vào một buổi trưa, lúc khoảng 12 giờ 30 phút, đồng chí Văn bảo tôi: Đồng chí Việt Cường đi cùng tôi, mang theo túi thuốc vào thăm người ốm. Tôi được đồng chí dẫn lên một chiếc lán, lên đến nơi tôi thấy Bác mặc bộ quần áo chàm, nằm bất tỉnh, thoi thóp thở ở trạng thái hôn mê. Tôi nhận thấy sự lo lắng trên nét mặt của đồng chí Văn. Tôi sờ tay lên trán Bác, bắt mạch và thấy mạch của Bác đập loạn. Thấy vậy, tôi quyết định báo cáo với đồng chí Văn được tiêm thuốc cho Bác. Đồng chí Văn đồng ý. Tôi chuẩn bị dụng cụ tiêm thuốc, lấy một ống ether, hai ống dầu long não tiêm cho Bác vì tôi biết rằng khi tiêm hai thứ thuốc này cho người bị cảm sốt, thuốc sẽ làm cho người bệnh bị nóng lên, kích thích bộ máy tuần hoàn làm việc. Tôi tiêm vào đùi cho Bác. Khi rút kim ra, tôi thấy Bác bị mất cảm giác. Một lúc sau đã thấy mùi dầu long não tỏa ra theo hơi thở của Người. Sau hai phút, Bác động đậy chân tay. Mười phút sau, thấy Bác bắt đầu cựa mình, người bắt đầu ấm lên. Sau đó, Bác lại thiếp đi. Rồi, Bác mở mắt, khi trông thấy đồng chí Văn, Bác dặn việc đồng chí Văn. Đồng chí Văn trả lời đại ý là đã biết việc đó và mong Bác yên tâm nghỉ ngơi dưỡng bệnh.
Chữa bệnh cho Bác trong thời kỳ ở Tân Trào còn có cụ Lang Páo, người ở xóm Nà Lẹng, xã Đồng Thịnh, huyện Định Hóa, Thái Nguyên. Con trai cụ Lang Páo là ông Trần Văn Nhân có kể lại: Mẹ tôi tên thật là Hoàng Thị Liên, sinh năm 1894, dân tộc Sán Chỉ. Ngay từ nhỏ đã được ông bà ngoại dạy nghề bốc thuốc nam. Từ các bài thuốc gia truyền cộng với sự lanh lợi, sáng ý, cụ bào chế được nhiều bài thuốc từ cây rừng, chữa khỏi bệnh cho rất nhiều người. Vào khoảng những năm 1940 - 1945, bà lang Páo đã nổi tiếng khắp các tỉnh tại khu vực về điều trị các chứng bệnh thường gặp ở phụ nữ, trẻ em, bó gãy xương và đặc biệt là các bệnh sốt rét, gan thận… Thời kỳ này, phong trào cách mạng đang bí mật, nhiều cán bộ hoạt động trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn nên sức khỏe suy kiệt, mắc nhiều loại bệnh. Gia đình bà lang Páo trở thành cơ sở cách mạng, không những cắt thuốc không lấy tiền mà còn thường xuyên đem thuốc vào rừng chữa bệnh cho cán bộ. Lần chữa bệnh đáng nhớ nhất trong cuộc đời bà lang Páo, cũng là niềm tự hào vô biên của con cháu bà và của cả nhân dân Thái Nguyên là bà đã được sang huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang chữa bệnh cho Bác Hồ. Hôm đó, ông Lộc Văn Tư đến nhà mời mẹ tôi sang chữa bệnh cho Bác Hồ đang ốm nặng ở Tân Trào. Mẹ tôi lập tức chuẩn bị các loại thuốc rồi lên đường ngay. Suốt một tháng trời ròng rã, mẹ tôi cùng anh em bảo vệ sắc thuốc uống và thuốc tắm để Bác đẩy lui căn bệnh sốt rét ác tính. Trước khi về lại Định Hóa, mẹ tôi đã vinh dự được chụp ảnh cùng Bác và được Bác tặng một con ngựa để đi chữa bệnh.
Ông Trần Văn Nhân còn nói rằng cụ lang Páo luôn cảm kích nhắc đến sự hào phóng của gia đình ông Ma Đình Tập ở bản Cái, xã Thanh Định, huyện Định Hóa. Nếu không có nhân sâm của ông Tập biếu thì rất có thể Bác Hồ đã khó qua khỏi. Ông Ma Đình Tập không may bệnh nặng, mất sau khi tặng sâm cho Bác khoảng một tháng. Đến năm 1947, bà Ma Thị Mai, vợ ông Tập đã được Tổng bộ Việt Minh trao tặng giấy chứng nhận và đồng tiền vàng in chữ “Tổ quốc ghi công”. Ông Ma Đình Đồng, nguyên sĩ quan tham mưu Quân khu Việt Bắc, con trai cụ Tập kể lại: …Khi bố tôi ốm nặng, người cán bộ mà trước đây đến hỏi mua sâm đã quay lại thăm và cho biết nhân sâm của gia đình đã được mang sang lán Nà Lừa ngay trong đêm để cứu chữa Bác Hồ qua cơn thập tử nhất sinh. Nghe vậy, bố tôi mãn nguyện không kể xiết. Gia đình tôi càng tự hào về quyết định của bố mẹ tôi.
Sau Cách mạng tháng Tám và trong thời gian kháng chiến chống Pháp, Bác bị ốm hai lần, trong đó một lần Bác bị sốt rét và một lần bị đau bụng. Theo hồi ký của bác sĩ Lê Văn Chánh (bác sĩ chăm sóc sức khỏe cho Bác Hồ từ năm 1947 đến năm 1955): Tôi còn nhớ vào khoảng năm 1947, tôi nhận nhiệm vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của Bác. Lần đầu tiên đến gặp Bác, tôi thấy Bác đang nằm trên võng ở cửa đình Hồng Thái…
Trong chín năm tôi nhận nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho Bác, Bác ít bị ốm. Có hai lần Bác bị ốm là một lần bị sốt rét và một lần bị đau bụng.
Lần Bác bị sốt rét, Bác gọi điện xuống Văn phòng anh Phạm Ngọc Thạch, anh bảo tôi đến khám bệnh cho Bác. Tôi đến thấy Bác bị sốt cao, còn đang tính xem nên dùng thuốc gì cho Bác thì Bác đã nói:
- Bác ra lệnh cho chú chữa hai hôm là phải hết sốt.
Tôi lo quá, Bác sốt cao như thế, chữa hai ngày thì khỏi hẳn sốt làm sao được? Sau khi hỏi ý kiến anh Thạch, tôi tiêm cho Bác một ống Bimốcphin loại 50 đơn vị và theo dõi. Thấy nhiệt độ giảm và không có phản ứng gì nên tôi báo cáo lại với anh Thạch và hôm sau tiêm thêm hai ống như vậy. Thế là Bác dứt cơn sốt. Bác cười và nói với tôi:
- Đấy, chú xem, Bác ra lệnh chữa hai ngày phải khỏi mà đúng như thế đấy.
Lúc đấy tôi mới hết lo và cười xòa cũng Bác. Sau đó anh Thạch lên báo cáo với Bác:
-  Thưa Bác! Tiêm thuốc phải đủ một liều năm ống, sau đó còn phải uống thuốc viên mấy ngày nữa.
Bác không đồng ý tiêm nữa, còn thuốc viên Bác chỉ uống hai ngày. Chúng tôi tiêm thuốc bổ B1, Bác cũng chỉ đồng ý tiêm có hai ngày.
Theo lời kể của đồng chí Hoàng Hữu Kháng (người trực tiếp bảo vệ Bác Hồ từ năm 1945 đến năm 1951) thì năm 1948, khi Bác ở thôn Lục Giã, xã Phú Đình: Bác vừa sốt, vừa đau răng.
Đến năm 1960, sức khỏe của Bác rất tốt. Người đã từng làm thơ:
Ăn khỏe, ngủ ngon, làm việc khỏe
Trần mà như thế kém gì tiên.
Đến giữa năm 1966, sau một chuyến đi địa phương về, Bác bị rối loạn tuần hoàn não, bị liệt nhẹ nửa người bên trái.
Năm 1967, mắt trái của Người bị mờ, có hiện tượng chảy máu đáy mắt, tay trái nắm không được vững, tiếng nói yếu, giọng bị khản. Bác sĩ kiểm tra thấy họng của Bác bị đứt một tia máu nhỏ. Đồng chí Vũ Kỳ đã kể: Vào năm 1967, có hôm Bác cầm cốc nước thì tự nhiên cốc nước rơi vỡ. Anh em nghĩ là có lẽ Bác nhỡ tay. Bác nói với đồng chí Vũ Kỳ không phải nhỡ tay đâu, mình cảm thấy cái tay của mình không điều khiển được.
Đồng chí Hoàng Hữu Kháng lại kể: Năm 1967, Bác bị đau thần kinh tọa, phải chống gậy đi, nhưng khi làm việc với các đồng chí Trung ương, các đồng chí vẫn không biết Bác bị đau, vì Bác không để lộ ra là mình yếu…
Những năm cuối đời, Bác yếu đi nhiều, khi Bác tiếp khách, chúng tôi phải dìu. Bác phải chống gậy, nhưng lúc đến gần địa điểm thì Bác bảo chúng tôi lui ra để Bác tự vào. Hôm Bác đi xem pháo bình bắn tập ở Ba Vì, phải leo lên đồi mới xem được, tôi đưa tay để Bác vịn đi lên, khi lên vẫn không ai biết là Bác mệt. Những ngày cuối Bác còn đến thăm phái đoàn cán bộ mới ở Hội nghị Pari về, cách đó chỉ hai mươi ngày trước khi Bác mất, Bác vẫn vui vẻ, vì vậy mọi người trong đoàn không biết là Bác đã yếu.
Bác ốm năm 1969, khi ấy tôi được phân công bảo vệ đoàn cán bộ Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình miền Nam do Luật sư Trịnh Đình Thảo dẫn đầu ra thăm miền Bắc. Khi đang bảo vệ đoàn đi thăm quan thì nhận được tin Bác ốm, tôi về ngay. Lúc này, Bác lên cơn đau tim, mặt tái, người đờ ra. Nhưng mỗi lần như vậy, Bác chỉ để các bác sĩ chăm sóc cho Bác, chứ tuyệt đối không hề rên rỉ một lời…
Đầu tháng 1/1969, bác sĩ phát hiện giọng nói của Bác bị khản, tiếng nói yếu hẳn, phát âm không được tròn vành, rõ chữ. Bác đã tập luyện bằng cách:
Tay bị liệt, Bác tập ném quả bóng vào rổ.
Giọng nói yếu, Bác có nhiều cách luyện tập, trong đó có một cách tập nói là Bác yêu cầu một đồng chí cảnh vệ lúc đầu thì đứng gần, sau đó thì đứng xa dần để nghe Bác nói có rõ không.
16 giờ, ngày 12/8/1969, Bác gặp đồng chí Lê Đức Thọ tại nhà nghỉ Hồ Tây nghe báo cáo tình hình Hội nghị Pari. Đêm hôm đó, Bác lên cơn sốt và ho. Rồi những ngày sau đó, Bác ho nhiều hơn, sốt cao hơn. Nhưng Bác vẫn lên xuống Nhà Sàn, gắng gượng làm việc. Tối ngày 17/8/1969, theo đề nghị của các bác sĩ, Bác không làm việc ở Nhà Sàn nữa, Người xuống ở và làm việc tại ngôi nhà mà Bộ Chính trị đã quyết định xây dựng trong những ngày tháng 5/1967 khi Bác đi công tác ở Trung Quốc, với mục đích để đảm bảo an toàn cho Bác trong những năm tháng máy bay giặc Mỹ bắn phá Hà Nội.
Những ngày cuối cùng của cuộc đời Bác, những giờ phút Bộ Chính trị, Trung ương Đảng, các giáo sư, bác sĩ hết lòng, hết sức chữa bệnh cho Bác, những lúc tỉnh lại Bác hỏi han mọi việc. Tuy bị ốm nặng, nằm trên giường bệnh, nhưng Người luôn quan tâm đến đất nước, đến dân tộc. Ngày 29/8/1969, khi tỉnh lại, Người nói với Thủ tướng Phạm Văn Đồng và những người xung quanh: Ngày lễ Quốc khánh Bác sẽ ra dự mươi mười lăm phút.
9 giờ sáng ngày 2/9/1969, Bác bị một cơn đau tim rất nặng. Các giáo sư, bác sĩ Việt Nam và Trung Quốc khẩn trương cấp cứu Bác. Theo dõi trên máy điện tim, 9 giờ 15 phút tim Bác ngừng đập. Các bác sĩ, các anh em bảo vệ thay nhau xoa bóp, day lên ngực Bác, mong sao tim Bác đập trở lại. Cho đến 9 giờ 47 phút, đồng chí Phạm Văn Đồng trào nước mắt, giọng nghẹn lại: Thôi! Các đồng chí ạ! Bác của chúng ta không qua khỏi nữa rồi.
Thế là 9 giờ 47 phút ngày 2/9/1969, từ nơi đây, Bác Hồ ra đi mãi mãi để cho “đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa”. Cũng ngày này 24 năm về trước, ngày 2/9/1945 Bác đã cứu dân tộc khỏi xích xiềng nô lệ, mang lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc.
Tóm lại, trong cả cuộc đời sức khỏe của Bác rất tốt. Trong những năm tháng trường kỳ kháng chiến và ngay cả khi về ở và làm việc tại Phủ Chủ tịch, Người luôn quan tâm đến vấn đề sức khỏe. Không những chỉ quan tâm, luyện tập để bản thân mình giữ gìn được sức khỏe, Người còn quan tâm, nhắc nhở những người xung quanh mình giữ gìn sức khoẻ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào tập luyện thể dục thể thao trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, góp phần Kháng chiến càng nhiều thắng lợi, kiến quốc càng mau thành công.
 

[1] Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử (xuất bản lần thứ hai, có sửa chữa bổ sung), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, H.2005, tập 1, trang 99, 101, 116.
[2] Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử (xuất bản lần thứ hai, có sửa chữa bổ sung), Sđd, tập 1, trang 120.