Tư tuởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ

 
Ths Vũ Kim Yến
Phòng STKKTL
Trong hành trình tìm đường cứu nước kéo dài 30 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên đem lại và tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, đồng thời cũng chính là người đề xướng và thực hiện công cuộc giải phóng phụ nữ, đưa thân phận người phụ nữ Việt Nam từ cảnh lầm than, khổ cực và bị đối xử bất bình đẳng trong xã hội phong kiến trở thành người công dân của một nước độc lập, có đầy đủ quyền lợi, nghĩa vụ, vai trò xã hội ngang hàng với nam giới. Ngay từ năm 1924, trong tác phẩm “Thư từ Trung Quốc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc đến cụm từ “giải phóng phụ nữ”. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ còn được nêu ra trong nhiều bài nói, bài viết của Người sau này. Nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ là giải phóng toàn diện về chính trị, tư tưởng, xã hội, giải phóng sức lao động nữ, tạo ra nhiều cơ hội cho phụ nữ vươn lên, thật sự bình đẳng với nam giới, huy động phụ nữ tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.
Trong diễn ca "Lịch sử nước ta", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Phụ nữ ta chẳng tầm thường. Ðánh Ðông, dẹp Bắc làm gương để đời". Chính vì vậy, nét đặc biệt trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ là Người đặt vấn đề giải phóng phụ nữ trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Người chỉ rõ: “Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa”(1). Người nhấn mạnh: “Chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy bình quyền bình đẳng, trai gái đều ngang quyền như nhau”(2). Theo quan điểm của Người, giải phóng phụ nữ trước hết là giải phóng về chính trị bởi vì trong hoàn cảnh nước mất, nhà tan, phụ nữ là người bị đọa đày đau khổ nhất, khi dân tộc được giải phóng “là lúc chị em phải cố gắng để kịp nam giới, để xứng đáng mình là một phần tử trong nước, có quyền bầu cử và ứng cử”(3). Bởi thế, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo xây dựng Hiến pháp và Luật Hôn nhân gia đình. Điều 9 Hiến pháp năm 1946 ghi: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”; Điều 1 Luật Hôn nhân và gia đình 1959 xác định: “Nhà nước bảo đảm việc thực hiện đầy đủ chế độ hôn nhân tự do và tiến bộ, một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và con cái, nhằm xây dựng những gia đình hạnh phúc, dân chủ và hoà thuận, trong đó mọi người đoàn kết, thương yêu nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ”.
Tiếp sau chính trị, phải thực hiện được vấn đề giải phóng phụ nữ về mặt xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Phụ nữ được bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đồng thời bình đẳng trong hôn nhân với chế độ một vợ một chồng. Song song với đó, phụ nữ cũng phải tự giải phóng, tự vươn lên làm tốt vai trò của mình trong chế độ mới, chú trọng thiên chức của người phụ nữ trong gia đình. Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn “chị em phải ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Tổ chức và phát triển hợp tác xã cho tốt. Làm cho gia đình ngày càng no ấm, làm tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước”(4). Đồng chí Lê Thị Xuyến, nguyên Chủ tịch đầu tiên của Hội LHPN Việt Nam kể lại: Tại Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ nhất họp vào trung tuần tháng 4 năm 1950 tại khu Việt Bắc, Bác Hồ đã đến thăm và nói chuyện với Đại hội. Các đại biểu hỏi nhiều chuyện, nhưng tôi cứ nhớ mãi một câu hỏi: “Thưa Bác, sao mãi Bác không có Bác gái cho chúng cháu? Nếu chúng cháu được phép tìm Bác gái cho Bác thì Bác phải theo tiêu chuẩn như thế nào?”. Bác Hồ vui vẻ trả lời: “Bác cũng như tất cả mọi người thôi. Ai cũng muốn tốt và đẹp”. Cả Đại hội rộn lên vì thích thú. Câu trả lời của Bác bình dị mà thâm thúy làm sao! Phải chăng, Bác muốn nhân đây nhắc nhở chị em: Cái đẹp phải đi đôi với cái tốt, và cái tốt phải ở hàng đầu (5).
Vấn đề thứ ba trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ đó là giải phóng tư tưởng, giải phóng năng lực để người phụ nữ vươn lên làm chủ bản thân, gia đình, làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Trong mọi việc, Đảng và Chính phủ ta luôn luôn quan tâm giúp đỡ phụ nữ. Vậy chị em phụ nữ ta phải nhận rõ địa vị làm người chủ và nhiệm vụ người làm chủ nước nhà”(6). Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý, để thật sự giải phóng phụ nữ, cần phải có sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức trong xã hội về tư tưởng thành kiến đối với phụ nữ. Ngày 11/10/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và nói chuyện với Hội nghị nữ thanh niên Thủ đô lần thứ nhất. Người căn dặn: "Nữ thanh niên cần phải gương mẫu làm đầu tàu, ra sức thi đua với nam giới, trong vấn đề luyến ái nên chính đáng, trong sạch, chớ mơ mộng, ảnh hưởng không tốt đến công tác, học tập. Cần chống các tập quán cũ như tảo hôn, cưới xin xa xỉ”. Người đặc biệt phê phán tình trạng chồng đánh vợ và khẳng định đây là tệ nạn về mặt đạo đức và vi phạm pháp luật: “Đàn ông là người công dân, đàn bà cũng là người công dân, dù là vợ chồng, người công dân này đánh người công dân khác tức là phạm pháp”(7). Người chỉ dạy: “Đàn ông phải kính trọng phụ nữ. Nhưng Bác nghe nói vẫn có người đánh chửi vợ! Đó là một điều đáng xấu hổ. Như thế thì còn gì là tình nghĩa vợ chồng? Như thế là phạm pháp, là cực kỳ dã man”(8) và yêu cầu “những thói dã man đánh vợ và ép con cần phải chấm dứt. Lợi quyền của phụ nữ cần được thật sự bảo đảm”(9).
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định, sự nghiệp giải phóng phụ nữ phụ thuộc vào chính bản thân người phụ nữ. Chị em phụ nữ phải “xoá bỏ cái tâm lý tự ti và ỷ lại; phải có ý chí tự cường, tự lập; phải nâng cao lên mãi trình độ chính trị, văn hóa, kỹ thuật”(10). Người yêu cầu phụ nữ phải tự mình phấn đấu giữ gìn quyền bình đẳng với đàn ông, phải “gắng học tập chính trị, học tập văn hóa, kỹ thuật, nâng cao tinh thần yêu nước và giác ngộ xã hội chủ nghĩa, hăng hái thi đua thực hiện “cần kiệm xây dựng Tổ quốc, cần kiệm xây dựng gia đình”, đoàn kết chặt chẽ, ra sức tham gia sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà và giữ gìn hòa bình thế giới”(11). Người còn chỉ rõ: “Phụ nữ công nhân cần tích cực tham gia quản lý thật tốt nhà máy, công trường. Phụ nữ nông dân cần hăng hái tham gia phong trào đổi công, hợp tác, gặt tốt vụ mùa, chuẩn bị tốt vụ chiêm năm tới. Các tầng lớp phụ nữ ở thành phố cần chấp hành tốt các chính sách của Đảng và Chính phủ. Chị em làm nghề buôn bán cần giữ đức tính thật thà, đúng đắn, bài trừ tệ "mua rẻ, bán đắt", tệ "mặc cả, nói thách". Chị em phụ nữ phải hết sức chăm lo bảo vệ sức khoẻ của con cái, vì thiếu nhi là tương lai của dân tộc”(12). Đáng chú ý là Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm công cuộc giải phóng phụ nữ ở nông thôn bởi họ là “đội quân lao động rất đông”, chủ yếu làm ra của cải vật chất. Người căn dặn hết sức cụ thể: “Phải đặc biệt chú ý đến sức lao động phụ nữ... Phải giữ gìn sức khoẻ cho phụ nữ để chị em tham gia sản xuất được tốt. Ví dụ: khi phụ nữ có kinh thì hợp tác xã chớ phân công cho họ đi làm ở chỗ ruộng sâu, nước rét” (13).
Biết bao câu chuyện thường ngày đã nói lên tình thương yêu, sự quan tâm rất cặn kẽ, tỉ mỉ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với chị em phụ nữ thuộc đủ mọi lứa tuổi, ở các cương vị khác nhau như nông dân, nhà giáo, nhà báo, bác sĩ, nghệ sĩ, cán bộ Hội phụ nữ, anh hùng quân đội... Hồi ký của đồng chí Lê Trọng Tấn có ghi: “Tháng 9-1964, tôi được chuẩn bị đi cùng anh Nguyễn Chí Thanh vào miền Nam chiến đấu. Trước ngày chúng tôi lên đường, Bộ Chính trị tổ chức bữa cơm thân mật tiễn đưa tại nhà khách số 4 Nguyễn Cảnh Chân. Bác đến, quan sát rất nhanh và hỏi ngay: “Tại sao hôm nay chỉ có một cô thôi?” Anh Nguyễn Chí Thanh đáp: “Thưa Bác, nhà tôi bận ạ!” Đáng lẽ bữa cơm thân mật hôm nay, theo chỉ thị của Bác phải có cả chị Cúc, vợ anh Nguyễn Chí Thanh và nhà tôi. Bác thấy nhà tôi mặc cái áo sơ mi bằng vải thường đã cũ liền nói: Phụ nữ phải mặc đẹp chứ! (14). Một chi tiết rất nhỏ nhưng thể hiện rõ cốt cách của Bác: tấm lòng bao dung rộng mở của một người cộng sản vĩ đại, là Chủ tịch nước nhưng chỉ có bộ kaki giản dị, luôn sống một cuộc sống thanh đạm nhưng tâm sức thì để hết vào việc chăm lo cho toàn dân ăn no, mặc đẹp. Đồng chí Nguyễn Thọ Chân cũng kể: “Ngày 30 Tết nguyên đán năm Ất Tỵ, tôi cùng với Bác đi canô trên Vịnh Hạ Long để chúc Tết đồng bào. Đến Đông Triều, Bác cùng chúng tôi vào một trường học ăn trưa. Lúc đi có cả vợ con tôi. Trong bữa ăn, Bác gắp thức ăn cho vợ tôi. Lần sau gặp tôi, Bác nói: “Chú làm ngoại giao, khi ăn có phụ nữ thì phải tiếp thức ăn cho họ”. Qua đó, tôi thấy được sự quý trọng và xử sự rất văn minh của Bác với phụ nữ”(15).
Có lần, một số cán bộ binh đoàn Trường Sơn (559) trước khi vào chiến trường đã được gặp Bác Hồ và nghe Người căn dặn nhiều điều quý giá. Bác biết ở Trường Sơn có hàng vạn thanh niên xung phong mà trong đó có nhiều chiến sĩ gái, đời sống hết sức thiếu thốn, khó khăn nên Người đã căn dặn các đồng chí lãnh đạo: “Tiêu chuẩn các cháu thanh niên xung phong phải lo như quân đội, phải chăm sóc và cải thiện sinh hoạt văn hóa, giải trí cho các cháu". Bác còn dặn phải lo tỉ mỉ cho các cháu từ cái kim, sợi chỉ, cái kéo cắt tóc, chiếc lược chải đầu (16). Bác đặc biệt quan tâm đến các bà mẹ và trẻ em. Nữ anh hùng Trần Thị Lý kể lại: “Có lần bác sĩ thấy bệnh tình tôi kéo dài do vết thương ở bụng vẫn thường rỉ máu và cho biết: nếu mổ dạ con thì đỡ ảnh hưởng đến sức khỏe và tôi cũng muốn mổ cho đỡ khổ nhưng nghe vậy, Bác không đồng ý. Bác nghĩ đến hạnh phúc của đời tôi”(17). Nghệ sĩ Tường Vi cũng kể: đã có nhiều lần nghệ sĩ được gặp Bác Hồ, trong nhiều lần ấy, Bác thường hỏi một câu mà nghệ sĩ Tường Vi và mấy bà mẹ trẻ là diễn viên của Đoàn ca múa Tổng cục Chính trị không thể ngờ tới: “Thế các cháu đi diễn dài ngày thì gửi con cho ai?” Câu hỏi ấy làm cho các chị cảm động đến ứa nước mắt (18). Chính sự quan tâm ngay cả những điều tưởng như nhỏ nhặt trong cuộc sống, đã làm cho hình ảnh của Bác vốn đã vĩ đại càng trở thành bất tử.
Thương yêu, quan tâm chị em phụ nữ, Bác không chỉ động viên khen ngợi, nhắc nhở họ phải phấn đấu tiến bộ không ngừng trong cuộc sống, mà còn có những nhận xét chi tiết về chuyên môn nghề nghiệp để giúp chị em khắc phục những nhược điểm nhằm đem lại hiệu quả công tác cao hơn. Nhà giáo Hiền Đức kể: “Bấy giờ theo chính sách đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, cơ quan chọn cử một số cán bộ trẻ ra nước ngoài học. Tôi cũng ở trong số đó. Nhưng tôi không muốn đi. Biết được điều đó, Bác liền gọi đến và nói: “Bây giờ có điều kiện thì phải học tập. Học tập để hiểu nhiều, biết nhiều. Có hiểu nhiều biết nhiều, mới phục vụ nhân dân tốt được”. Sau khi giảng giải và khuyên tôi đi học là cần thiết, Bác dặn: “Đi học thì phải chịu khó, chăm chỉ học tập. Chưa hiểu thì hỏi, không được giấu dốt, đã hiểu rồi thì bảo lại cho bạn cùng hiểu”. Rồi Bác lấy cái hộp thuốc lá của Bác đưa cho tôi. Bác nói: “Bác cho cháu cái hộp này để đựng kim chỉ, ngoài giờ học thêu, thùa, vá, may. Con gái phải biết làm những việc đó”(19). Nhà báo Như Quỳnh cũng giữ mãi một kỷ niệm đáng ghi nhớ: “Một lần, Bác hỏi chị Thanh Thủy và tôi: "Các cô đã có con chưa? Các cô biết bế con, nuôi con chưa? Làm báo Phụ nữ không phải chỉ nói chính trị suông, giải phóng phụ nữ chung chung mà còn phải hướng dẫn cho chị em cách nuôi con, dạy con, chăm lo việc gia đình" (20).
Xúc động biết bao khi trong bản Di chúc lịch sử gửi lại cho muôn đời sau, Chủ tịch Hồ Chí Minh không quên vai trò của người phụ nữ trong chiến đấu, sản xuất và Người đã căn dặn: “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo”(21).
Tự hào khi được Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho sự quan tâm đặc biệt, hơn ai hết, toàn thể phụ nữ Việt Nam ngày nay càng quyết tâm nêu cao vai trò, trách nhiệm trong các phong trào thi đua yêu nước, nguyện không phụ sự tin cậy của Bác và truyền thống phụ nữ Việt Nam “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”, đồng thời nâng tầm những gì đã có để đáp ứng yêu cầu của thời đại mới – thời đại đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Năm 2016 phụ nữ chiếm khoảng 50,6% tổng dân số Việt Nam và gần 50% lực lượng lao động xã hội. Về mặt chính trị, ngày càng có nhiều phụ nữ đảm nhiệm các vị trí quan trọng trong hệ thống các cơ quan lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội-nghề nghiệp. Có 20/200 uỷ viên TW Đảng khoá XII là 20 là nữ (đạt tỷ lệ 10%), gồm 17 uỷ viên chính thức và 03 uỷ viên dự khuyết; tỉ lệ nữ uỷ viên chính thức đạt 9.44%, tăng 0,87% so với nhiệm kỳ XI (8.57%) và tăng 1.31 % so với nhiệm kỳ X (8,13%). Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội nhiệm kỳ 1997-2002 là 26,2%, nhiệm kỳ 2002-2007 là 27,3%, nhiệm kỳ 2007-2011 là 25,8% (cao thứ 31 trên thế giới), nhiệm kỳ 2011-2016 là 24,4% (cao thứ 2 trong khu vực và thứ 43 trên thế giới).
Trong các phong trào thi đua yêu nước, đã xuất hiện nhiều tài năng, điển hình tiên tiến của phụ nữ: có 19 nữ anh hùng và 225 nữ chiến sĩ thi đua toàn quốc trong thời đổi mới. Các chị là những tấm gương tiêu biểu của phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới. Thực tế đó cho thấy, việc thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách hết sức đúng đắn của Đảng và Nhà nước về công tác vận động, giải phóng phụ nữ đã tạo điều kiện để phụ nữ phát huy khả năng vươn lên có những đóng góp tích cực cho sự phát triển xã hội, góp phần vào thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Với đà tiến bộ và phát triển hiện nay, nhất định phụ nữ nước ta sẽ tiếp tục phát huy được truyền thống “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” để đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, đồng thời luôn là chỗ dựa tin cậy cho mỗi mái ấm gia đình.

Chú thích:
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ ba, Nxb.CTQG, Hà Nội, 2011, t.12, tr.300
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, , t.15, tr.259
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.41
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr.263
(5)Bác Hồ với đất Quảng, Nxb. CTQG, H.2000
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.60-61
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.295
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.260
(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.524
(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.59
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.511
(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.547
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.259-260
(14) Có Bác trong tim, Nxb. QĐND, H. 2001, tr. 47 - 85
(15) Bác Hồ sống mãi với chúng ta, t.2, Nxb CTQG, H.2005, tr.480-486
(16) Những kỷ niệm cảm động về Bác Hồ, Nxb.VHTT, H.2009
(17) Những kỷ niệm cảm động về Bác Hồ, Nxb.VHTT, H.2009
(18) Mênh mông tình thương H Chí Minh, Nxb.Thanh niên, H.2002
(19) Bác Hồ sống mãi với chúng ta, t.2, Sđd, tr.494-498
(20) Nước non bừng sáng, Nxb. Phụ nữ, H. 1975
(21) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.613