Chủ tịch Hồ Chí Minh và Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa

ThS. Lường Thị Lan
Phòng Sưu Tầm - Kiểm kê - Tư liệu
Trần Đại Nghĩa tên thật là Phạm Quang Lễ, sinh năm 1913 trong một gia đình nhà giáo nghèo ở tỉnh
Vĩnh Long. Năm 7 tuổi đã mồ côi cha, nhưng ông được mẹ và chị ruột tần tảo nuôi ăn học. Cậu học trò nghèo Phạm Quang Lễ học rất giỏi, luôn đứng đầu lớp. Giữa năm 1933, Phạm Quang Lễ thi đỗ đầu hai bằng tú tài: Tú tài ta và tú tài tây. Năm 1935, ông thi được suất học bổng toàn phần Trường Chasseloakp Laubat - Pháp và ông sang Pháp năm đó, đầu tiên là học Cầu - Đường.
Từ khi còn trẻ, cậu học trò Phạm Quang Lễ đã có suy nghĩ: nước Việt Nam có truyền thống đánh giặc cả ngàn năm, lòng can đảm và lòng yêu nước đều không thiếu, nhưng người Việt Nam vẫn bị thực dân khuất phục là do ta không có vũ khí hiện đại như Pháp. Chính vì thế khi sang Pháp du học, Phạm Quang Lễ đã quyết tâm học cho bằng được cách chế tạo vũ khí. Và cũng từ những suy nghĩ đó, ông đã bỏ công vào học ngành Cầu - đường, rồi ngành Hóa học, tại Đại học Sookbors - Pháp, trường nổi tiếng thế giới. Phạm Quang Lễ ngoài việc học ở trường còn tự mày mò đọc những sách về vũ khí tại nhà. Sau những năm miệt mài, học và thực hành, ông đã đỗ hạng ưu của các ngành Hóa học, chế tạo vũ khí. Ra trường, có thời gian ông sang Đức làm việc cho một hãng chế tạo máy bay để học về chế tạo vũ khí. Ông đọc sách ngày đêm, thu nhận kiến thức chờ cơ hội về giúp nước. Nhưng đó là việc vô cùng khó khăn, như sau này ông kể lại: “Công việc chẳng phải là giản đơn. Không một nước nào trên thế giới lại ngớ ngẩn công bố các tài liệu kỹ thuật quân sự. Đế quốc Pháp đâu phải là điên đến mức để cho một người Việt Nam, kể cả những kẻ đã vào “làng Tây”, được đến học ở các trường dạy về vũ khí hay vào làm ở các viện nghiên cứu, các nhà máy sản xuất vũ khí. Vì thế, trong 11 năm đằng đẵng ấy, tôi chỉ có thể mò mẫm tự học một cách âm thầm, đơn độc và bí mật hoàn toàn...”(1).
Lần đầu tiên Phạm Quang Lễ được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh là lúc ông cùng kiều bào ta ở Pháp ra sân bay đón Bác - năm 1946, khi Người sang thăm nước Cộng hoà Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp. Phạm Quang Lễ có vinh dự được tham gia đoàn đại biểu đại diện cho Hội Việt kiều tại Pháp đến thăm Bác, nghe Bác kể về tình hình trong nước và đề nghị kiều bào ta báo cáo tình hình hoạt động. Ông đã cùng với Bác đi thăm bà con Việt kiều, thăm Đảng Cộng sản Pháp và các danh lam, thắng cảnh. Nhân chuyến thăm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi Việt kiều về nước xây dựng Tổ quốc, cùng nhân dân cả nước đấu tranh bảo vệ nền độc lập, toàn vẹn lãnh thổ. Gặp mặt các tri thức trẻ như: Phạm Quang Lễ (kỹ sư), Trần Hữu Tước (bác sĩ), Võ Đình Quỳnh (kỹ sư)... Người nói: “nước ta còn nghèo vì 80 năm bị đế quốc bóc lột, chiếm đóng. Đồng bào Nam Bộ giờ đây còn đổ máu. Chúng ta còn gian khổ chiến đấu nhiều chứ chưa được sung sướng ngay đâu. Các chú về nước chính là để phục vụ Tổ quốc, phục vụ đồng bào”(2).
Khi nghe lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh cộng với quyết tâm trở về nước giúp đồng bào Phạm Quang Lễ trình bày ý nguyện hồi hương cứu quốc với Bác. Khi gặp Bác hỏi Phạm Quang Lễ: “Nguyện vọng của chú lúc này là gì?”, ông trả lời rất nhanh: “Kính thưa Cụ, nguyện vọng cao nhất của tôi là được trở về Tổ quốc cống hiến hết năng lực và tinh thần”(3). Đến ngày 08/09/1946, sau khi Hội nghị
Fontainebleau thất bại, Người nói với Phạm Quang Lễ: “Bác về nước. Chú chuẩn bị về với Bác. Ít ngày nữa, ta lên đường!” . Vào lúc đó ông quyết định từ bỏ chức vụ kỹ sư trưởng ở Hãng nghiên cứu chế tạo máy bay Concord với đồng lương tương đương 22 lạng vàng một tháng để theo Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước: “Đối với tôi, việc này rất dễ. Bởi vì tôi đã chuẩn bị từ lâu”. Ngày 16/09/1946, trên chuyến xe lửa đặc biệt khởi hành từ Paris đến Toulon đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên chuyến tàu ấy Người đã hỏi Phạm Quang Lễ: Chú về nước chế tạo vũ khí, cách mạng sẽ rất cần. Nhưng trong nước khổ lắm. Chú có chịu nổi không?, không chút do dự ông trả lời “Tôi chịu nổi”. Người lại nói ở bên nhà không có kỹ sư và công nhân vũ khí, máy móc thiếu, liệu có làm được không? Ông đáp chắc như đinh đóng cột “Tôi làm được”(4).
Ngày 20/10/1946, chiến hạm Dumont de Urville đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng kỹ sư Phạm Quang Lễ, bác sĩ Trần Hữu Tước, kỹ sư Võ Quí Huân và đoàn cập cảng Hải Phòng. Chủ tịch Hồ Chí Minh tin những thanh niên Việt kiều yêu nước này sẽ cống hiến hết mình cho Tổ quốc: “Sớm muộn gì chiến tranh Việt Pháp sẽ không tránh khỏi, chú Trần Đại Nghĩa, chú Võ Quý Huân sẽ chế tạo được vũ khí đánh giặc, chú Trần Hữu Tước bào chế thuốc men. Đó là yêu cầu khẩn thiết nhất lúc này”(5).
Về nước được 7 ngày, Phạm Quang Lễ được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp giao nhiệm vụ lên Thái Nguyên nghiên cứu chế tạo súng chống tăng dựa theo mẫu Bazoo- ka của Mỹ, với hai viên đạn do Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu cung cấp. Lúc này ngành quân giới của ta chưa biết gì nhiều về vũ khí trong khi vũ khí chủ lực của Pháp là máy bay và xe tăng, và chúng biết rất rõ rằng chúng ta chưa hề có súng chống tăng. Cho nên việc người kỹ sư tài hoa Phạm Quang Lễ từ Pháp trở về tham gia kháng chiến thật sự đáng mừng, như lời đồng chí Võ Nguyên Giáp nói: “Nghe tin anh về, anh em bên này mừng lắm!”(6).
Ngày 5/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho mời kĩ sư Phạm Quang Lễ đến Bắc Bộ Phủ (nay là Nhà khách Chính phủ, 12 Ngô Quyền) gặp Bác. Bác thân mật nói: “Kháng chiến sắp đến nơi rồi, hôm nay tôi gọi chú đến để trao cho chú nhiệm vụ làm Cục trưởng Cục Quân giới. Chú lo vũ khí cho bộ đội diệt giặc”. Bác nói tiếp: “Việc của chú là việc đại nghĩa, vì thế kể từ nay, Bác đặt tên cho chú là Trần Đại Nghĩa. Dùng bí danh này để giữ bí mật cho chú và để bảo vệ cho gia đình, bà con chú còn ở trong Nam”. Bác giải thích rất dí dỏm: “Một là họ Trần, không có họ với Bác, đấy là họ của Trần Hưng Đạo. Hai là, Đại Nghĩa là nghĩa lớn để chú nhớ đến nhiệm vụ của mình với nhân dân, với đất nước. Đại Nghĩa còn là chữ của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo: “Dĩ đại nghĩa nhi thắng hung tàn, dĩ chí nhân nhi địch cường bạo”. Chú có ưng bí danh đó không?”(7). Từ đó cái tên Trần Đại Nghĩa đã gắn với ông trọn đời, đưa ông đi vào lịch sử ngành chế tạo vũ khí của Việt Nam.
Cùng các cộng sự, Trần Đại Nghĩa bắt tay vào công việc ngay. Ông say mê làm việc đến quên ăn, quên ngủ. Nhiều đêm ông chỉ mong cho trời chóng sáng để làm việc, nghiên cứu, thử nghiệm. Song công việc không hề dễ dàng. Ông chỉ đạo xưởng Gi- ang Tiên sản xuất thành công một khẩu súng Bazooka 60mm và 50 quả đạn. Khi bắn thử, đạn nổ nhưng chưa xuyên. Đạn Bazooka của Mỹ được nhồi bằng thuốc phóng, còn ta chỉ có loại thuốc súng lấy được từ bom đạn của Pháp. Tất cả đều phải tính toán lại từ đầu và phải hiểu được những nguyên lý cơ bản về thuốc phóng, thuốc nổ. Những kiến thức sách vở 11 năm thu lượm xứ người bắt đầu phát huy tác dụng. Đáng tiếc là gần 1 tấn sách tài liệu về vũ khí của Trần Đại Ng- hĩa chuyển về nước bị thất lạc. Bằng trí nhớ của mình, ông cố gắng nhớ lại tất cả những kiến thức về vũ khí để kết nối, tính toán lại. Hình ảnh người kỹ sư miệt mài tính toán tốc độ cháy, đốt thử các loại thuốc súng, ngày đêm với cây thước tính trong tay... đã trở nên quá đỗi quen thuộc với các cán bộ chiến khu. Chỉ một sai sót nhỏ sẽ phải trả giá bằng xương thịt của chiến sĩ nơi trận mạc, vì thế trách nhiệm càng đè nặng lên vai người kỹ sư trẻ. Cuối cùng, đến tháng 2/1947, cuộc thử nghiệm Bazooka thành công. Mức đâm xuyên của đạn vừa chế tạo đạt độ sâu 75cm trên tường thành xây gạch tương đương với sức nổ xuyên của đạn Ba- zooka do Mỹ chế tạo.
Đêm ngày 2/3/1947, Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng Phan Mỹ giao nhiệm vụ cho Cục Quân giới sản xuất cấp tốc đạn Bazooka để cản phá cuộc hành quân của Pháp. Chúng ta đã vây Pháp hơn 2 tháng ở Hà Nội và giờ chúng đang tìm cách thoát ra. Ông Phan Mỹ yêu cầu: “Các đồng chí đã bắn thử Bazooka thành công, tuy chưa chắc chắn lắm nhưng tình hình lúc này rất cấp bách. Sáng mai quân Pháp có khả năng chọc thủng mặt trận Cầu Mới - Hà Đông. Đề nghị anh Nghĩa cho nhồi gấp đạn Ba- zooka ngay trong đêm để kịp mang đến cho đồng chí Vương Thừa Vũ trong ngày mai. Anh Vũ đang bảo vệ Bác Hồ và Chính phủ ở Quốc Oai, Hà Tây”(8). Thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng ấy, tất cả lực lượng của Cục đều được huy động nhồi thuốc, lắp đạn. Cật lực suốt đêm, đến 3 giờ sáng thì tổ nghiên cứu của Trần Đại Nghĩa cùng anh em trong cơ quan Cục Quân giới nhồi lắp được 5 quả đạn mang mã hiệu B60, kèm 1 quả đạn khói, 1 súng Mỹ cải tiến đưa ra mặt trận. Sáng ngày 3/3/1947, tại chùa Trầm ta đã giành thắng lợi khi dùng đạn tự sản xuất bắn cháy xe tăng của địch. Và đó cũng là ngày trở thành một mốc son của ngành Quân giới Việt Nam trong việc chế tạo khí tài, súng đạn. Sau đó Bazooka được đưa vào sử dụng chiến đấu, gây cho địch nhiều tổn thất rất lớn. Như vậy với những kiến thức về vũ khí tích lũy được trong thời gian học và làm việc tại Pháp, dù khó khăn chồng chất nhưng kỹ sư Trần Đại Nghĩa đã chế tạo thành công súng Bazooka. Trước đây khi chưa có súng Bazooka, các chiến sĩ cảm tử phải ôm bom ba càng hy sinh thân mình lao vào tiêu diệt xe tăng địch. Sau này, trong cuốn “Chiến tranh Đông Dương” xuất bản tại Paris năm 1963, ký giả Lucien Bodart viết: “Cái thứ gây khó khăn cho chúng tôi, cái thứ xuyên thủng bêtông dày 60cm là những quả đạn SKZ. Chỉ cần vài quả là đã tiêu diệt được lôcốt của chúng tôi”. Bên cạnh súng Bazooka, Trần Đại Nghĩa còn chế tạo thành công nhiều loại vũ khí khác như súng đại bác không giật, SKZ. Câu chuyện ông và các cộng sự chế tạo vũ khí hiện đại trong điều kiện thiếu thốn của núi rừng Việt Bắc được xem như huyền thoại của cuộc kháng chiến.
Tiếp theo Bazooka, kỹ sư Trần Đại Nghĩa lại nghiên cứu, sáng chế loại súng không giật SKZ, mạnh hơn Bazooka. Trung đoàn Thủ đô, Đại đoàn 308 là đơn vị đầu tiên được trang bị SKZ trong chiến dịch Lê Hồng Phong I (tháng 2/1950) hủy diệt nhiều lô cốt kiên cố của giặc Pháp. Sau chiến dịch, anh em Quân báo ta bắt được điện của Sở Chỉ huy Pháp ở Lào Cai gửi về Hà Nội: “Chúng ta đã thất thủ. Điều ấy chứng tỏ đối phương Việt Minh đã có những đơn vị chủ lực hùng hậu khác hẳn trước đây. Đó là một điều đáng lo ngại”(9). Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Cục Quân giới chuyển ra chiến trường 10 khẩu SKZ và 100 quả đạn. Số súng đạn này đã góp phần giúp chiến sĩ hạ gục nhiều đồn bốt địch. Tiếp theo, ông Trần Đại Nghĩa và Cục Quân giới chế tạo thành công ĐKZ rồi Bom bay.
Năm 1948, Trần Đại Nghĩa được phong quân hàm Thiếu tướng, trở thành một trong 10 vị tướng đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam. Đồng chí Võ Nguyên Giáp là Đại tướng, Nguyễn Bình là trung tướng, còn Trần Đại Nghĩa cùng Nguyễn Sơn, Văn Tiến Dũng, Trần Tử Bình, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Văn Thái, Hoàng Sâm đều là thiếu tướng. Khi ấy Trần Đại Nghĩa mới 35 tuổi. Năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ định Trần Đại Nghĩa kiêm chức Thứ trưởng Bộ Công thương, ông có dịp gặp Bác thường xuyên ở các phiên họp của Hội đồng Chính phủ. Có lần, Bác nói với ông, đại ý là “Nếu vì những lý do nào đó mà cản trở công việc của chú, thì chú hãy báo cáo cho Bác biết”. Ngày Quốc tế lao động năm 1952, Trần Đại Nghĩa được tuyên dương Anh hùng lao động trong số bảy Anh hùng lao động đầu tiên. Nói về những cống hiến của ông cho nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Anh hùng lao động Trần Đại Nghĩa là một đại trí thức, mang một lòng nhiệt thành về phụng sự Tổ quốc, phục vụ kháng chiến”(10). Còn Đại tướng Võ Nguyên Giáp gọi ông là “ông Phật làm súng”.
Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang ở giai đoạn ác liệt nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với các đồng chí lãnh đạo rằng: “Tôi đem chú Nghĩa về để kháng chiến. Bây giờ cuộc kháng chiến vô cùng ác liệt, chưa biết diễn biến sẽ ra sao, chú Nghĩa đang ở Hà Nội, tại sao không mời chú ấy tham gia quốc phòng?”. Sau đó, Bác chỉ định ông làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, với tư cách là Thư ký quốc phòng. Ba tháng sau, đồng chí Lê Đức Thọ mời Trần Đại Nghĩa tới nhà riêng và nói: “Anh làm ba nhiệm vụ một lúc thì nặng quá, cho nên chức vụ “Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước” để trên cử người khác thay”. Nhưng khi Bác biết được việc này Người đã nói với các đồng chí trong Bộ Chính trị: “Chú Nghĩa hồi kháng chiến chống Pháp làm bao nhiêu nhiệm vụ mà cũng làm được (Cục trưởng Cục Quân giới, Cục trưởng Cục Pháo binh, Thứ trưởng Bộ Công thương). Tại sao sau mấy chục năm chú ấy lại không làm được ba việc?”(11). Cách đối xử của Bác
với Trần Đại Nghĩa đã thể hiện sự chung thuỷ, có trước có sau, luôn tin tưởng tuyệt đối những hiền tài, trí sĩ cống hiến hết mình cho Tổ quốc, cho đồng bào.
Dưới sự tin tưởng của Đảng và Bác, Trần Đại Nghĩa lần lượt giữ thêm các chức vụ quan trọng nữa như: Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nặng, Phó  Chủ  nhiệm Ủy ban Kiến thiết Nhà nước, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học kỹ thuật Nhà nước, Phó Chủ nhiệm Tổng cục hậu cần, Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam, Chủ tịch Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam đầu tiên... Ở cương vị nào ông cũng làm tròn nhiệm vụ góp phần vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cứu nước và là người đặt nền móng cho ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam. Ông được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng nhất… Năm 1966, ông được bầu làm Viện sỹ nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, rồi Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học CHDC Đức. Ngày 30/04/1975, khi nước nhà thống nhất, ông có ghi vào cuốn sổ tay của mình: “Đã hoàn thành nhiệm vụ” - đó là nhiệm vụ cứu nước, cứu dân mà ông đã từ bỏ cuộc sống phồn hoa trên đất Pháp để theo Bác Hồ trở về Tổ quốc.

Chú thích:
1.2. Theo G.S Trần Đại Nghĩa- Báo Hậu Giang, số 395 ngày 30/3/2007
3. Chuyện chưa kể về Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa, báo ĐS&PL ngày 24/1/2012
4.5.8.9.10.11. Kỷ niệm về Bác, Nxb. thông tấn, H, 2005, tr.71.