Giúp bạn cũng là tự giúp mình!

Kỷ niệm 70 năm chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn (6/1949 - 6/2019):
 
Đỗ Hoàng Linh
PGĐ Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
 
BBT: Đảng CS Việt Nam (VCP) và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chủ trương đoàn kết, hợp tác, giúp đỡ Đảng CS (CCP) và quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) trong cuộc nội chiến chống lại các thế lực phản cách mạng. Giữa năm 1949, quân đội nhân dân Việt Nam dưới sự chỉ đạo của VCP và Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo đề nghị của CCP đã mở chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn giúp PLA đánh bại quân đội Quốc dân đảng, giải phóng một vùng rộng lớn ở Tây-Nam Trung Quốc.
 
Trong khi nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp gian khổ thì nhân dân Trung Quốc cũng đang phải tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng đất nước chống lại Quân đội Quốc dân Đảng được Mỹ hậu thuẫn. Trung ương Đảng CS Trung Quốc và Trung ương Đảng CS Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo luôn đoàn kết, kề vai sát cánh, chiến đấu bên nhau đã viết nên những trang sử đẹp về tình hữu nghị Việt - Trung. Đầu năm 1946, vào thời điểm quân Quốc dân Đảng trong vai trò Đồng Minh sang Việt Nam giải giáp vũ khí của phát xít Nhật rút về nước thì xảy ra sự kiện hơn 700 người của Đội du kích kháng Nhật “Lão Nhất Đoàn” do Đảng CS Trung Quốc lãnh đạo ở Nam Lộ (thuộc Quảng Đông, bao gồm một phần đất của Quảng Tây ngày nay) bị một sư đoàn quân phản động Quốc dân Đảng bao vây, truy kích. Sau khi được sự đồng ý của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng CS Việt Nam, đội du kích này đã rút khỏi vùng Động Trung, Phòng Thành, Quảng Tây sang khu giải phóng của Việt Nam nghỉ ngơi và chỉnh đốn lực lượng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp chỉ thị cho đảng bộ cơ sở địa phương thu xếp, ổn định đời sống cho các du kích của “Lão Nhất Đoàn”. Quân Quốc dân Đảng biết sự việc đó đã thúc ép Chính phủ Việt Nam phải giao đội du kích này cho chúng. Nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh không những kiên quyết từ chối yêu cầu ngang ngược này của quân Quốc dân Đảng mà còn cho phép “Lão Nhất Đoàn” tiếp tục ở lại Việt Nam tổ chức Đội tự vệ Hoa kiều chống Pháp. Đến tháng 9/1947, “Lão Nhất Đoàn” trở về nước trở thành đội quân nhân dân vũ trang giải phóng quan trọng của quân khu Vân Nam - Quảng Tây - Quý Châu.
 
Thập Vạn Đại Sơn (tiếng Trung: 十万大山) là một dãy núi dài khoảng 170 km, rộng khoảng 15-30 km nằm ở đông nam Khu tự trị dân tộc Choang tỉnh Quảng Tây của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Dãy núi này chạy theo hướng đông bắc-tây nam với phía nam cao hơn phía bắc. Đầu phía đông bắc bắt đầu ở Khâm Châu; đầu phía tây nam ở huyện Ninh Minh sát biên giới với Việt Nam. Đỉnh cao nhất trong Thập Vạn Đại Sơn là 1.462 m. Tại huyện Thượng Tư có Lâm viên Thập Vạn Đại Sơn là một điểm du lịch nổi tiếng. Từ đầu kháng chiến toàn quốc, chúng ta đã có quan hệ̣ mật thiết với Nam lộ Bát lộ quân Trung Quốc ở Hoa Nam và Bộ tư lệnh Quân khu Điền Quế. Đầu năm 1948, đồng chí Trang Điền nhận chỉ thị của đồng chí Chu Ân Lai được cử làm phái viên sang Lục Giã, ATK Việt Bắc để gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí trong Thường vụ lãnh đạo Đảng ta. Đồng chí Trang Điền thông báo tình hình chiến tranh giải phóng ở Trung Quốc. Quân Tưởng tăng cường càn quét những lực lượng vũ trang cách mạng ở Hoa Nam để củng cố hậu phương. Những đơn vị du kích của bạn đang gặp khó khăn và thiếu lương thực. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bàn với phái viên của bạn về sự phối hợp chiến đấu, giúp đỡ lẫn nhau giữa quân đội cách mạng hai nước. Đầu năm 1949, cuộc chiến đấu với Quốc dân Đảng - Tưởng Giới Thạch của Đảng Cộng sản Trung Quốc đang trên đà thắng lợi. Tuy nhiên ở vùng Hoa Nam, lực lượng Quốc dân Đảng còn khá mạnh đã gây khó khăn cho việc phát triển cơ sở cách mạng. Một yêu cầu cấp bách đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc lúc này là phải xây dựng cơ sở chính trị và vũ trang ở đây để đón đại quân tiến xuống giải phóng vùng này. Đầu tháng Ba, quân Tưởng ở Quảng Tây tấn công dữ dội hai khu Trấn Biên, Tĩnh Tây. Một bộ phận bộ đội du kích và cơ quan hậu phương của hai khu này tạm thời chuyển qua biên giới Việt Nam. Tháng 4/1949, Đảng CS Trung Quốc và lãnh đạo phong trào du kích ở Quảng Tây cử đại diện sang gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng ta đề nghị giúp đỡ chi viện lực lượng kháng địch. Chủ tịch Hồ Chí Minh và TƯ Đảng nhận thấy việc giúp đỡ phong trào cách mạng Trung Quốc lúc này cũng có lợi cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của ta nên đã quyết định dùng bộ phận chủ lực của quân khu Việt Bắc và bộ đội địa phương hai tỉnh Lạng Sơn, Hải Ninh (thuộc Quảng Ninh bây giờ) sang giúp bạn mở chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn nhằm giúp quân giải phóng nhân dân Trung Quốc mở rộng vùng căn cứ Ung Châu - Long Châu - Khâm Châu của tỉnh Quảng Tây. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn các cán bộ chỉ huy tham gia làm nghĩa vụ quốc tế ghi nhớ 10 chữ: Cẩn Thận - Bí Mật - Đoàn Kết - Hữu Nghị - Thắng Lợi(1). Ngày 23 tháng 4 năm 1949, Bộ Tổng tư lệnh ra mệnh lệnh giao nhiệm vụ cho Bộ tư lệnh Liên khu 1 “giúp Quân giải phóng xây dựng một khu giải phóng ở vùng Ung-Long-Khâm liền với biên giới Đông Bắc của ta”; “đồng thời hoạt động ở Đông Bắc để mở rộng khu tự do Đông Bắc ra tận biên giới và thông ra biển, liền với khu giải phóng Việt Quế của bạn”. Mệnh lệnh nói rõ phải giáo dục chính trị cho bộ đội trước khi lên đường, phải xây dựng tình đoàn kết giữa hai nước Trung Hoa mới và Việt Nam mới, giữa Quân giải phóng Trung Quốc và bộ đội ta. Cán bộ, chiến sĩ ta cần thấy rõ những điều kiện thuận lợi và nhất là những khó khăn; phải tôn trọng phong tục tập quán của nhân dân địa phương, nêu cao kỉ luật chính trị, chú trọng công tác dân vận. Cần đứng trên lập trường đoàn kết giữa hai dân tộc, căn cứ vào lợi ích cách mạng của hai nước mà giải quyết các vấn đề, tuyệt đối tránh “bản vị chủ nghĩa”. Để thực hiện chiến dịch, một bộ chỉ huy chung được thành lập mang tên Bộ chỉ huy khu Thập Vạn Đại Sơn do đồng chí Lê Quảng Ba, phó tư lệnh Liên khu 1 làm Tư lệnh chiến dịch, đồng chí Trần Minh Giang, cán bộ Trung Quốc làm chính trị viên. Chiến dịch chia thành hai mặt trận đánh quân Tưởng ở hai phía Đông và Tây dãy Thập Vạn Đại Sơn. Mặt trận Điền Quế do đồng chí Nam Long làm chỉ huy trưởng, đồng chí Hoàng Bình, cán bộ của bạn, làm chỉ huy phó, đồng chí Đỗ Trình làm chính trị viên; Mặt trận Long Châu do đồng chí Thanh Phong làm chỉ huy trưởng, đồng chí Chu Huy Mân và đồng chí Long Xuyên làm chỉ huy phó. Bộ Tổng tham mưu cử một đoàn cán bộ tác chiến giúp Bộ tư lệnh khu Thập Vạn Đại Sơn về công tác tham mưu, theo dõi diễn biến của chiến dịch, thường xuyên báo cáo với Bộ Tổng tư lệnh. Mặt trận phía Tây sẽ đánh trước, phía Đông đánh sau.
 
Đầu tháng 6/1949, bộ đội ta bắt đầu xuất phát. Đêm 12/6, bộ đội ta ở mặt trận phía tây Thập Vạn Đại Sơn vượt biên giới hướng về đồn Thủy Khẩu - một vị trí đối diện với Phục Hòa (Cao Bằng) của ta. Theo thỏa thuận với quân khu Tả Giang - Long Châu, cán bộ và chiến sĩ ta được phát mỗi người một tấm quân hiệu bằng vải màu vàng in chữ Trung Quốc màu đỏ “Trung Quốc Nhân dân Giải phóng quân-35 D” cài trên ngực áo. Khi quân ta bắt đầu bao vây đồn này thì trời mưa tầm tã. Lực lượng quân ta gồm tiểu đoàn 73 thuộc trung đoàn 74, tiểu đoàn 35 của Bộ điều đến, 1 đại đội pháo 75mm, 1 đại đội trợ chiến cùng 2 đại đội địa phương của huyện Văn Uyên và Thoát Lãng. Trong khi đại bộ phận lực lượng bao vây đồn Thủy Khẩu, chỉ huy quân ta lại cho 1 đại đội tiến sâu vào lòng địch, chiếm núi Độc Sơn để ngăn địch rút về Long Châu. Tướng Chu Huy Mân, khi đó là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 74, Phó tư lệnh mặt trận phía tây Thập Vạn Đại Sơn kể lại trong hồi ký rằng: Quân ta tấn công Thủy Khẩu bằng những loạt đạn pháo 75mm. Tiểu đoàn 73 vác cờ búa liềm tiến sát đồn cùng những tiếng hô vang dội. Quân Tưởng dùng chiến thuật “quân dã ngoại giữ thành” của Nhật để đối phó. Chúng cho quân ra ngoài chỉ để một bộ phận trong đồn bắn tỉa. Nhưng quân dã ngoại bị ta bao vây đã không dám nổ súng mà phải nằm rạp trườn đi từng thước trên mặt đất rồi tháo chạy về Long Châu. Quân ta truy kích ráo riết.. Sau 2 ngày đêm trong đánh ngoài vây, quân ta đã hạ được đồn Thủy Khẩu, diệt và bắt làm tù binh toàn bộ quân Tưởng trong đồn. Phía ta cũng hy sinh 11 cán bộ chiến sĩ. Sau trận Thủy Khẩu, quân ta tiếp tục tiến đánh La Hồi, diệt và bắt sống 1 tiểu đoàn quân Tưởng ở chân núi Độc Sơn. Từ Long Châu, địch phái 1 tiểu đoàn đến ứng chiến. Ngày 15/6, tiểu đoàn quân Tưởng từ Long Châu đến bị bộ đội ta đánh dồn vào các hang đá ở ven bờ sông Tả Giang gần Hạ Đống. Đến sáng ngày 18/6, chúng kéo cờ trắng xin hàng. Thừa thắng, bộ đội ta tiến thẳng đến thị trấn Long Châu. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, quân Tưởng tháo chạy và rút luôn các vị trí Thượng Thạch, Hạ Thạch, Ninh Minh. Thế là cả một dải đất dài 30 km từ Thủy Khẩu, La Hồi, Hạ Đống đến Long Châu chỉ trong vòng 15 ngày đã sạch bóng quân Tưởng. Hướng Điền Quế đường đi khó khăn hơn. Bộ đội ta phải hành quân trèo đèo lội suối mất gần một tháng dưới nắng hè gay gắt mới đến nơi. Phát hiện bộ đội ta, quân Tưởng rút bỏ nhiều vị trí, co về các thị trấn lớn như Nà Lường, Phòng Thành, Đông Hưng. Đầu tháng 7, bộ đội ta tiến công Trúc Sơn, một thị trấn có 4 đại đội quân Tưởng bảo vệ. Bộ đội ta phối hợp với bạn củng cố vùng giải phóng đã mở rộng ở khu Thập Vạn Đại Sơn, đánh địch càn quét, tiễu phỉ ở vùng Khâm Châu. Ta tiêu diệt hơn một trung đoàn địch, diệt và bức địch rút 10 vị trí trong số 12 vị trí ở huyện Phòng Thành, làm cho các khu căn cứ nối liền một dải thu hẹp phạm vi chiếm đóng của quân địch ở huyện Khâm Châu. Tháng 10/1949, khi lực lượng vũ trang của bạn ở hai biên khu Điền Quế và Việt Quế liên lạc được với chủ lực Quân giải phóng, bộ đội ta nhận lệnh rút về nước. Bên ta để lại một đại đội tiếp tục phối hợp với lực lượng của bạn để xây dựng cơ sở, củng cố và mở rộng vùng giải phóng. Chúng ta cũng trao lại cho bạn hơn 500 khẩu súng các loại thu được của quân Tưởng.
 
Bộ Tư lệnh khu Thập Vạn Đại Sơn nhận định: thắng lợi về quân sự đã quan trọng, nhưng thắng lợi về chính trị còn lớn hơn nhiều. Bộ đội ta đã để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng nhân dân địa phương về tinh thần quốc tế của bộ đội Cụ Hồ. Trong chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn, tại vùng biên giới Bằng Tường có 8 chiến sĩ Việt Nam đã hy sinh. Để ghi công và tưởng nhớ các chiến sĩ đã hy sinh tại thị trấn Đông Hưng (Trung Quốc) có một đài liệt sĩ trên khắc song song hai hàng chữ Việt - Hán: “Đài kỷ niệm liệt sĩ cách mạng nhân dân Việt – Trung”. Trên bệ có khắc một bia bằng tiếng Việt “Nhân dân Trung Quốc đời đời nhớ ơn các chiến sĩ đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và tình hữu nghị giữa các dân tộc. 1956, Đảng Lao động và Mặt trận Tổ quốc, Ủy ban hành chính huyện Hải Ninh”. Hài cốt của các tử sĩ Việt Nam và Trung Quốc được quy tập và chôn cất dưới chân đài. Trong chiến dịch tại Thủy Khẩu (thị trấn cửa khẩu thuộc huyện Long Châu Trung Quốc, đối diện cửa khẩu Tà Lùng, Cao Bằng, Việt Nam) có một trận đánh kéo dài 2 ngày đêm của liên quân Trung-Việt chống lại 6 trung đoàn quân Quốc dân Đảng, trong số những người tử trận có Chủ tịch huyện Long Tân và 22 chiến sĩ Việt Nam. Để tưởng nhớ liệt sĩ của hai nước, các hài cốt đã an táng tại Khiếu Lâm, La Hồi, và Hạ Đông được cải táng về Thủy Khẩu, lấy tên là “Nghĩa trang Liệt sĩ Trung Việt tại Thủy Khẩu Long Châu”. Ngày nay, những địa điểm lịch sử này đều trở thành những điểm du lịch nổi tiếng của Trung Quốc.
 
Tài liệu tham khảo:
1.       Hồ Chí Minh biên niên sự kiện. Nxb Chính trị quốc gia 2009. Tập IV
2.       Chiến đấu trong vòng vây. Nxb Quân đội nhân dân 2001
3.       Hồ Chí Minh với Quảng Tây. Nxb nhân dân Quảng Tây 2006