Chủ tịch Hồ Chí Minh và công cuộc giải phóng phụ nữ về văn hoá xã hội

Ths. Nguyễn Ngọc Dung
Đại học Thuỷ lợi
 
Phụ nữ ở nước ta chiếm hơn 50% số dân. Dưới chế độ cũ, phụ nữ phải chịu nhiều nỗi bất công của xã hội. Đó là sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ, sự coi thường về mặt chính trị, sự thiếu thốn cùng cực về kinh tế và văn hoá xã hội. Là một người yêu nước, mang trong mình nỗi khát khao giải phóng dân tộc, đem lại hạnh phúc cho nhân dân lao động, trong đó có phần đông là phụ nữ, từ những năm hai mươi của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến số phận của người phụ nữ bản xứ nói chung, người phụ nữ Việt Nam nói riêng. Theo kết quả của các nhà nghiên cứu: "Trong suốt cuộc đời của mình, Hồ Chí Minh đã có hơn bốn mươi bài phát biểu, bài viết, thư gửi chị em phụ nữ" (1), trong đó, Hồ Chí Minh đặc biệt đề cao vị trí và vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta và nêu lên những nhiệm vụ cơ bản của phụ nữ trong giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Lịch sử cũng chứng minh phụ nữ Việt Nam không chỉ giỏi việc nhà mà còn đảm việc nước. Từ truyền thống vẻ vang của dân tộc Việt Nam nói chung, truyền thống phụ nữ nói riêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam chỉ có thể được thực hiện thành công với sự đóng góp to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân, trong đó có phụ nữ.
 Năm 1927, trong tác phẩm Đường Kách Mệnh, Nguyễn ái Quốc cho rằng phụ nữ chiếm đa số trong lực lượng dân tộc, trong nhân dân lao động. Đa số họ đều chịu nhiều đau khổ, hi sinh và mất mát nên họ có tinh thần cách mạng sâu sắc. Phụ nữ là lực lượng cách mạng to lớn. An Nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia, không có họ thì cách mạng không thể thành công. Sự nghiệp giải phóng phụ nữ không chỉ là công việc riêng của phụ nữ, mà nó gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và cao hơn tất cả là giải phóng con người: "Đàn bà con gái cũng nằm trong nhân dân, nếu cả dân tộc được tự do, đương nhiên họ cũng được tự do. Ngược lại, nếu dân tộc còn trong cảnh nô lệ thì họ và con cái họ cũng sẽ sống trong cảnh nô lệ đó thôi" (2) vàphụ nữ chỉ có thể đạt được sự bình đẳng với nam giới khi dân tộc đã được độc lập, tự do. Nhận thức sáng tạo này được Người ghi rõ trong Chánh cương, Sách lược vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930: a,Dân chúng được tự do tổ chức; b,Nam nữ bình quyền (3).Sau đó, trong Mười chính sách của Việt Minh (1941), nội dung giải phóng phụ nữ được thể hiện:
 "Đàn bà cũng được tự do, Bất phân nam nữ, đều cho bình quyền" (4).
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên đã đánh giá đúng vị trí, vai trò, khả năng và những đóng góp của phụ nữ Việt Nam trong mọi thời đại: "Non sông gấm vóc Việt Nam đều do phụ nữ ta trẻ cũng như già ra sức thêu dệt mà thêm tốt đẹp, rực rỡ" (5). Đồng thời, Người cũng khẳng định rằng con đường giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp cũng là con đường giải phóng phụ nữ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ đã được nêu trong những văn kiện, lời huấn thị, thư và bài phát biểu của Người từ năm 1925 đến năm 1969. Đó là những quan điểm mang tính kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin với vấn đề giải phóng phụ nữ phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam. Nội dung tư tưởng giải phóng phụ nữ cũng được Người đề cập trên tất cả mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, nhưng bài viết này chỉ tập trung vào nội dung Hồ Chí Minh với việc giải phóng phụ nữ trên lĩnh vực văn hoá - xã hội.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề diệt giặc dốt và nâng cao dân trí của phụ nữ
Trong những năm tháng bôn ba hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Hồ Chí Minh vẫn chăm lo việc nâng cao dân trí, giáo dục cho Việt kiều lao động để đoàn kết họ, thức tỉnh tinh thần yêu nước của họ. Hồ Chí Minh là người thầy trực tiếp bồi dưỡng, đào tạo những hạt giống đỏ của cách mạng và thực hiện hoài bão nâng cao dân trí. Trong điều kiện chiến tranh, Hồ Chí Minh vẫn bình tĩnh chèo lái con thuyền cách mạng và "Người không đặt công việc văn hoá giáo dục ở thứ bậc bình thường mà khẳng định diệt giặc dốt, nâng cao dân trí là một trong những công việc cấp bách của chính quyền cách mạng" (6).
Năm ngày sau phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, chỉ trong một ngày 8/9/1945 đã có ba sắc lệnh 17, 19 và 27, đặt sự nghiệp bình dân học vụ vừa là một phong trào cách mạng, vừa là một thiết chế văn hoá giáo dục của nhà nước Việt Nam DCCH. Khi nạn đói được kịp thời dập tắt, hưởng ứng lời kêu gọi diệt giặc dốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đông đảo phụ nữ đã phấn khởi tham gia tích cực đi học và dạy học. Khi phát động phong trào diệt giặc dốt, Người khuyến khích: "Phụ nữ lại càng cần phải học, đã lâu chị em bị kìm hãm, đây là lúc chị em phải cố gắng để kịp nam giới"(7). Năm 1946, hai triệu phụ nữ đã được thanh toán nạn mù chữ. Phong trào diệt giặc dốt vẫn tiếp tục phát triển mạnh trong những năm đầu kháng chiến. Phụ nữ là lực lượng đông nhất và tích cực nhất. Các lớp bình dân được tổ chức bằng nhiều hình thức thích hợp. Phụ nữ miền núi cũng tích cực thi đua học hành. Năm 1948, có bốn triệu phụ nữ thoát nạn mù chữ. Năm 1949, 70% phụ nữ đã biết đọc, biết viết.
Cùng với những chỉ tiêu phát triển kinh tế, các chỉ tiêu về văn hoá, giáo dục, y tế, xã hội cũng được thực hiện tốt. Theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lại được Đảng, Nhà nước tạo điều kiện và được sự quan tâm của toàn xã hội, thành tích chống nạn thất học trong sự nghiệp xây dựng đất nước và phát triển văn hoá với sự đóng góp của phụ nữ được đánh giá rất cao. Không chỉ động viên nhân dân và phụ nữ nâng cao trình độ văn hoá, Hồ Chí Minh còn lấy những tấm gương của phụ nữ Liên Xô, Trung Quốc để động viên, khích lệ phụ nữ Việt Nam, để họ xoá bỏ mặc cảm tự ti, tự mình phấn đấu vươn lên về mọi mặt.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc xây dựng đời sống văn hoá mới của phụ nữ
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, miền Bắc được giải phóng và quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: "Chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hoá cao và đời sống tươi vui hạnh phúc" (8). Chủ trương xây dựng đời sống mới là một chủ trương rất độc đáo của văn hoá Hồ Chí Minh. Đời sống mới bao gồm cả văn hoá đạo đức, văn hoá lối sống, văn hoá lao động, văn hoá gia đình. Đó là những vấn đề của tất cả mọi người. Cùng với phong trào diệt giặc dốt, phụ nữ là những người tích cực hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống mới. Họ là lực lượng tích cực đấu tranh chống các hủ tục, mê tín dị đoan, xây dựng nếp sống vệ sinh khoa học. Đặc biệt từ khi Luật Hôn nhân và gia đình được Quốc hội thông qua, các quan hệ gia đình như vợ chồng,  mẹ chồng nàng dâu được cải thiện, trật tự an ninh, thôn xóm được giữ vững, các tệ nạn cờ bạc, rượu chè, lễ bái và các hủ tục lạc hậu đã giảm đi rất nhiều so với trước kia. Xây dựng nếp sống văn hoá xã hội mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh thật giản dị, với những mục tiêu cụ thể:"Trong nhà ngoài vườn luôn sạch sẽ gọn gàng. Đối với xóm giềng, phải thân mật và sẵn lòng giúp đỡ. Đối với việc làng việc nước, phải hăng hái làm gương"(9). Quan tâm, chăm lo đến phụ nữ, Người coi những công việc này vừa thích hợp với phụ nữ về sức khỏe và những phẩm chất của họ, đồng thời vừa tạo điều kiện để ai cũng có thể tham gia đóng góp sức mình cho gia đình và xã hội. Từ những định hướng lớn của Đảng, Chính phủ đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, phát huy thế mạnh của mình, với khả năng sẵn có, Trung ương Hội phụ nữ Việt Nam đã phát động phong trào thi đua Năm tốt tháng 3 năm 1961. Những nội dung cơ bản của phong trào này là: 1. Đoàn kết sản xuất, tiết kiệm tốt; 2. Chấp hành chính sách tốt; 3. Tham gia quản lý tốt; 4. Học tập chính trị, văn hoá, kỹ thuật tốt; 5. Xây dựng gia đình, nuôi dạy con tốt
Phong trào thi đua Năm tốt mang tính toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Đây là một phong trào cách mạng, nhằm động viên sức lực, trí tuệ, tài năng của phụ nữ trong xây dựng xã hội mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn và lưu ý phong trào Năm tốt phải kết hợp chặt chẽ với phong trào thi đua yêu nước, với ba cuộc vận động lớn là "Ba xây, ba chống, "Cải tiến quản lý hợp tác xã nông nghiệp" và cuộc vận động "Đồng bào miền xuôi đi phát triển kinh tế và văn hoá miền núi". Người cũng căn dặn, tuỳ điều kiện từng nơi, từng vùng mà áp dụng phong trào cho phù hợp, cần phải giúp đỡ chị em miền núi tham gia phong trào này, vì phong trào phát triển sâu rộng trong các tầng lớp phụ nữ phải dựa trên cơ sở: “ Phụ nữ phải nâng cao tinh thần làm chủ, cố gắng học tập và phấn đấu; phải xoá bỏ tư tưởng bảo thủ, tự ti; phải phát triển ý chí tự cường, tự lập... Có như vậy sẽ thực hiện 100% bình quyền, bình đẳng" (10)..
Trong gần một phần tư thế kỉ, trong hoàn cảnh đất nước còn chia cắt, chiến tranh và đầy rẫy những thách thức hiểm nguy, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc nói chung, giải phóng phụ nữ nói riêng, đất nước, con người Việt Nam đã định hình được những phẩm chất của con người mới XHCN và một lối sống mới. Đó là một nền văn hoá luôn hướng con người đến chân, thiện, mĩ mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam và nhân cách văn hoá Hồ Chí Minh. Nền văn hoá Việt Nam mới có vẻ đẹp của phẩm giá con người, của nhân cách làm người với đầy đủ ý nghĩa cao quý nhất. Đây là cơ sở chuẩn bị cho những bước phát triển sau này của nền văn hoá Việt Nam và khẳng định vị thế, vai trò của người phụ nữ trong lĩnh vực văn hoá - xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng tư tưởng của Người về giải phóng phụ nữ một cách toàn diện, trong đó có giải phóng phụ nữ về văn hội, xã hội và những lời dặn lại của Người đối với phụ nữ trong bản Di chúc lịch sử vẫn luôn được Đảng, Chính phủ và xã hội tiếp tục thực hiện. Đất nước đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, những nhiệm vụ cơ bản mà Hồ Chí Minh vạch ra nhằm giải phóng phụ nữ trong lĩnh vực văn hoá - xã hội vẫn là một vấn đề thời sự nóng hổi đối với phụ nữ Việt Nam. Giải phóng phụ nữ về văn hoá - xã hội chẳng những là một nhiệm vụ đặt ra đối với toàn xã hội, mà còn là một nhiệm vụ nặng nề đối với phụ nữ, bởi rằng: Có hoàn thành được sự nghiệp giải phóng này hay không, đó không chỉ là trách nhiệm của toàn xã hội, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào sự nỗ lực phấn đấu của tất cả phụ nữ chúng ta.Chú thích:
1, Hồ Chí Minh với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, NxbCAND2000, tr.697
2, Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, t.2, tr.443
3-4, Sđd nt, t.3, tr.1, tr 206
5, Sđd nt, t.6, tr.431- 432
6, Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, Nxb. Từ điển bách khoa, H, 2003, t.1, tr.91
7, Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.4, tr.37
8, Sđd nt, t.8, tr.494
9, Sđd nt, t.5, tr.100
10, Sđd nt, t.11, tr.259