TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG MỘT NỀN HÀNH CHÍNH VÌ DÂN PHỤC VỤ

Ths. Đỗ Đức Huỳnh
Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
 
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là nhà tư tưởng, nhà lý luận trong lĩnh vực hành chính nhà nước mà Người còn là một kiến trúc sư lỗi lạc của nền hành chính Nhà nước Việt Nam về tất cả các nhân tố cấu thành của nó như: Xây dựng thể chế tổ chức bộ máy, chế độ công vụ, công chức tác phong và lề lối làm việc, kỹ thuật hành chính và cơ chế vận hành, rèn luyện đạo đức, sửa đổi cách làm việc, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, đảm bảo xây dựng một nền hành chính thực sự của dân, do dân và vì dân.
Một là, Xây dựng nền hành chính công vụ vì dân dựa trên nền tảng pháp lý và thực tiễn Việt Nam:
Cách đây 67 năm, trong bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Dân ta đã đánh đổ xiềng xích thực dân gần 100 năm để xây dựng nên Nhà nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ cộng hòa”(1). “Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta”(2). Bản chất của chế độ mới là dân chủ, cộng hòa. Chế độ ấy đã tạo ra tiền đề và đòi hỏi một nền hành chính phù hợp với bản chất của nó, tổ chức hoạt động và bộ máy nhân sự khác về chất so với trước đây.
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng và quan tâm xây dựng nhà nước pháp quyền hợp pháp, hợp hiến với nền hành chính công vụ vì dân và khoa học. Người đã quan tâm cả hai mặt: tổ chức các thiết chế của bộ máy nhà nước và ban hành các thể chế (hiến pháp và pháp luật) tạo cơ sở pháp lý và khoa học để tổ chức “một chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân”. Đó là một Nhà nước có cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động thích hợp với điều kiện lịch sử Việt Nam đương thời, đảm bảo tính khoa học về chính trị học, xã hội học, luật học và khoa học tổ chức hành chính.
Trong Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương về kháng chiến và kiến quốc ngày 25/11/1946, sau khi phân tích tình hình quốc tế và Đông Dương, Chỉ thị đã khẳng định: “Nhiệm vụ riêng trong nước là phải củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân. Bởi vậy, về mặt nội chính, một mặt đi đến Quốc hội để qui định hiến pháp, bầu chính phủ chính thức” (3). Ngay sau khi tổ chức lễ Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945, tuyên bố sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, mặc dù gặp trăm ngàn khó khăn phải giải quyết, nhưng với tầm nhìn chiến lược, với kinh nghiệm của một nhà cách mạng lão luyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn chủ trương bằng mọi cách tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốc hội và ban hành Hiến pháp. Cuộc tổng tuyển cử 6/1/1946 thắng lợi, Chính phủ liên hiệp kháng chiến (2/3/1946) và Chính phủ kháng chiến (3/11/1946) do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, được Quốc hội khóa I chuẩn y. Thông qua cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu trong cuộc bầu cử Quốc hội khóa I và các kỳ bầu cử Quốc hội sau đó, quyền chính trị của nhân dân được thực thi trong thực tiễn. Tư tưởng quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân của Người còn được thể hiện rõ qua các điều văn của Hiến pháp 1946. Hiến pháp 1946 - hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước Việt Nam với sự nhất trí gần như tuyệt đối (với 240 phiếu thuận trên tổng số 242 đại biểu có mặt). Đây là kết quả vô cùng quan trọng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá tại phiên họp bế mạc kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa I: “Bản Hiến pháp được coi là một vết tích lịch sử Hiến pháp đầu tiên trong cõi Á Đông này… Bản Hiến pháp đó chưa hoàn toàn nhưng nó đã làm nên theo một hoàn cảnh thực tế”(4).
Những quy định của Hiến pháp 1946 về tổ chức bộ máy nhà nước từ Quốc hội, Chính phủ đến Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp, về cơ quan tư pháp đều chứa đựng sâu sắc bản chất của một nhà nước pháp quyền kiểu mới, của dân, do dân và vì dân. Hiến pháp 1946 khẳng định: Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam. Đó là sự hiện thực hóa, pháp chế hóa chế độ dân chủ, cộng hoà. Nhà nước của dân và do dân nghĩa là nhân dân xây dựng, củng cố, bảo vệ chính quyền nhà nước, coi chính quyền là ruột thịt của mình. Nhà nước vì dân nghĩa là nhà nước mưu cầu quyền lợi, hạnh phúc cho nhân dân.
Khác với thuyết “pháp trị” trong xã hội phong kiến coi pháp luật là công cụ bảo vệ lợi ích của thiểu số cầm quyền; khác với lý luận pháp quyền của xã hội tư sản coi pháp luật là công cụ duy lý chặt chẽ và vô tình để quản lý sao cho có lợi cho giai cấp tư sản, quan điểm về pháp luật của chế độ mới theo Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xoay quanh vấn đề xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, đồng thời hình thành pháp luật phục vụ cho quyền lợi của nhân dân. Nhân dân vừa là chủ thể quyền lực vừa là người được pháp luật bênh vực bảo vệ và theo đó, tính tích cực chính trị của công dân có vai trò rất quan trọng. Người cũng nhấn mạnh rằng, để Hiến pháp và pháp luật đảm bảo tính khách quan, phù hợp và phản ánh đúng đắn ý chí, nguyện vọng của nhân dân, Nhà nước phải thực hiện trưng cầu ý dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần kêu gọi nhân dân “ủng hộ chính phủ”, “giúp đỡ chính phủ” trong công việc hay “tìm người tài đức” cho bộ máy nhân sự. Có lẽ đây là điểm khác biệt lớn nhất của chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa so với các nền dân chủ đương thời.
Nền hành chính dân chủ cộng hòa theo Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là nền công vụ “chú trọng thực tế và nỗ lực làm việc”. Điều Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm đầu tiên (và cũng chính là ham muốn tột bậc của Người) là độc lập cho dân tộc, tự do hạnh phúc cho nhân dân. Trong cuộc họp đầu tiên của Uỷ ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc sau tháng 8 năm 1945, Người nêu rõ mục tiêu của Nhà nước là: “1. Làm cho dân có ăn; 2. Làm cho dân có mặc; 3. Làm cho dân có chỗ ở; 4. Làm cho dân có học hành”. Người còn nói: “Chúng ta đấu tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(5). Bởi vậy hoạt động của nền hành chính nhà nước trước hết phải phục vụ cho “độc lập - tự do - hạnh phúc”. Chính Người đã chọn tiêu ngữ ấy cho mọi văn bản hành chính của chế độ dân chủ cộng hòa. Nó chẳng những là qui chuẩn hình thức mà còn hướng tất cả hoạt động của Cơ quan hành chính tới mục tiêu hạnh phúc của nhân dân.Trách nhiệm lo hạnh phúc cho dân là trách nhiệm rất quan trọng của nền hành chính dân chủ cộng hòa. “Chính sách của Đảng và Chính phủ phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân, nếu dân đói là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”(6).
Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu quan niệm về nền hành chính mới: Hành chính: Chính phủ dân chủ cộng hòa là gì? Là đày tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ. Làm việc ngày nay không phải để thăng quan, phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ. Nhưng khi dân dùng đày tớ làm việc cho mình, thì phải giúp Chính phủ. Nếu Chính phủ sai thì phải phê bình, nhưng không phải là chửi.
Hai là, Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về nền hành chính mới
Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người đặt nền móng cho nền hành chính Việt Nam hiện đại. Có thể thấy rất rõ dấu ấn của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong việc Hồ Chí Minh lựa chọn mô hình, tổ chức, phương pháp vận hành nền hành chính mới. Nhu cầu của thực tiễn kháng chiến kiến quốc, phát triển sức sản xuất và chăm lo đời sống nhân dân… luôn được quán triệt sâu sắc trong qúa trình xây dựng nhà nước mới. Và công cuộc xây dựng nền hành chính mới cũng trước tiên phải phục vụ cho sự nghiệp “kháng chiến, kiến quốc” và xây dựng CNXH.
Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về một nền hành chính của dân, do dân, vì dân vừa mới mẻ vừa phản ánh đúng tính chất dân chủ. Nền hành chính gần dân, vì dân và có bổn phận “đem chính trị vào ở giữa dân gian” đã là một hiện thực của chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đó là nền hành chính làm công cụ đắc lực cho một nhà nước pháp quyền XHCN. Đó là nền hành chính ngay từ đầu tiên đã cương quyết chống lại những biểu hiện của các căn bệnh được coi là “mãn tính” của nhà nước như quan liêu, giấy tờ, cồng kềnh, xa dân và xa thực tiễn. Đó là nền hành chính vì dân và cang ngày càng được hoàn thiện trong quá trình vận hành của bộ máy Nhà nước.
bề bộn công việc trên cương vị lãnh đạo Đảng, lãnh đạo Nhà nước, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giành nhiều thời gian, công sức nghiên cứu để không ngừng đổi mới nền hành chính trên cả ba lĩnh vực, đó là: Không ngừng đổi mới và ngày càng tăng cường tính chất “nhân dân” của bộ máy hành chính dân chủ cộng hòa; Xây dựng bộ máy của các cơ quan hành chính từ Trung ương đến địa phương luôn sát dân, gọn nhẹ và hiệu quả; Kiên trì xây dựng một đội ngũ cán bộ hành chính có lòng trung thành, có đạo đức cách mạng và có kỹ năng hành chính tốt, ngày càng chính quy, hiện đại. Nhiều nguyên tắc do Chủ tịch Hồ Chí Minh quy định hiện nay vẫn còn nguyên giá trị,chẳng hạn nguyên tắc pháp quyền dân chủ, nguyên tắc “những gì có lợi cho dân phải hết sức làm, những gì có hại cho dân phải hết sức tránh”; nguyên tắc “vì việc mà tìm người chứ không vì người mà đặt việc”; nguyên tắc “xây dựng một nhà nước ít tốn kém”; xây dựng một nền hành chính gần dân, vì dân và gọn nhẹ (Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 chỉ có 10 Bộ)
Tư duy biện chứng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng nền hành chính cũng nhiều độc đáo. Bên cạnh việc chỉ ra sự khác biệt về bản chất của nhà nước và nền hành chính khi so sánh với các nền hành chính đương thời, Người thấy được sự bất công của nền hành chính thực dân nhưng cũng thấy được những yếu tố hợp lý để kế thừa. Một số thao tác của quản lý truyền thống hoặc của nền hành chính nước ngoài có tính hợp lý cũng được Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa, chẳng hạn như phát huy dân chủ để chọn đúng người cho công việc kết hợp với thi tuyển để lựa chọn công chức; đề cao sự giám sát của nhân dân kết hợp với chế độ trách nhiệm và tính nêu gương của người lãnh đạo; thực hiện chế độ quản lí cán bộ – công chức, giải quyết tốt giữa việc bồi dưỡng, đào tạo công chức mới với việc tận dụng và sử dụng rộng rãi những công chức của chế độ cũ.Dưới sự ủy thác của Người, luật gia Vũ Đình Hoè đã củng cố Bộ Tư pháp, xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp từ trung ương đến địa phương, đắc lực giúp Người đặt nền móng cho Nhà nước pháp quyền trong suốt 14 năm (1946 – 1960). Là người đứng đầu Bộ, ông đã kiên trì nguyên tắc “tư pháp nhân dân” và “tư pháp độc lập với hành chính” được ghi trong Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh chúng ta còn có thể thấy sự kế thừa khá nhiều nguyên lý của khoa học pháp quyền hiện đại và kinh nghiệm pháp lý – hành chính của nhiều quốc gia đương đại có nền hành chính pháp quyền, dân chủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa hợp lý những kinh nghiệm thực tiễn và lý luận ấy nhưng không hề xa rời thực tiễn Việt Nam. Luật gia Vũ Đình Hoè đã nhận xét về qúa trình Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng thể chế và thiết chế hành chính cho nền dân chủ cộng hòa lúc đó rằng: “Người có một tư duy pháp lý nhạy bén tuỵệt vời, gần như thiên bẩm, thấu hiểu và thi hành một cách sáng tạo lý luận và thực tiễn chế độ pháp quyền của thời đại và của thế giới văn minh. Với quan điểm rất mới về nhà nước và pháp quyền, Người xây dựng chính quyền nhân dân trên đất Việt Nam ngàn năm văn hiến, vừa thoát vòng nô lệ của phương Tây”(7).
Từ những nền móngcăn bản ấy, Nhà nước Việt Nam dân chủ công hòa non trẻ cùng nền hành chính của mình đã hoàn thành trách nhiệm lịch sử với quốc gia trong sự nghiệp lãnh đạo cả dân tộc kháng chiến kiến quốc, xây dựng chế độ dân chủ cộng hòa thành công và lãnh đạo đất nước trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Những thành tựu lịch sử, to lớn của Nhà nước Việt Nam nói chung và nền hành chính Việt Nam nói riêng không tách rời những tư tưởng rất khoa học của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công vụ, công chức và nền hành chính mới vì dân, của dân và do dân mà chính Người đã dày công xây đắp.
Ba là, Những việc cần làm để tiếp tục vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về công vụ, công chức trong cải cách hành chính hiện nay
Trước hết cần phải khẳng định và giữ vững tính chất nhà nước của dân, do dân, vì dân của nền hành chính pháp quyền nước ta.
Cải cách hành chính (CCHC) là để góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam; phát huy vai trò tham gia quản lý, tư vấn, giám sát và phản biện xã hội trong hệ thống chính trị, nhằm cải thiện quan hệ giữa cơ quan, công chức nhà nước với công dân ở một số lĩnh vực hành chính công theo hướng công khai, minh bạch, dân chủ trên cơ sở bình đẳng, song vụ giữa quyền và nghĩa vụ của hai bên.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu cao tinh thần thực tế và gần dân của Chính phủ. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân. Nó có thể tiếp thu những yếu tố công năng – kỹ thuật của văn minh pháp quyền đương đại, nhưng cần lọc bỏ những yếu tố không phù hợp với tính chất và mục tiêu của chế độ XHCN mà toàn Đảng, toàn dân ta đang phấn đấu. Theo đó, mục tiêu của CCHC ở nước ta là không ngừng làm cho nền hành chính lành mạnh và hiệu quả trong hoạt động và không ngừng góp phần làm cho nhà nước ngày càng mạnh mẽ và đáp ứng các yêu cầu của thời đại.
Kiện toàn hệ thống chính trị để hỗ trợ cho cải cách hành chính
Cải cách hành chính trước hết phải hướng tới giữ vững chế độ dân chủ XHCN. Nó phải hướng tới việc hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ phận trụ cột của nền dân chủ là Nhà nước. Cải cách và hoàn thiện nền hành chính nhà nước gắn liền với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và nền hành chính, nhằm giữ vững bản chất của nhà nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Các chủ trương, giải pháp cải cách hành chính phải gắn bó chặt chẽ với quá trình đổi mới kinh tế, yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, hình thành và hoàn thiện các yếu tố của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững trật tự, kỷ cương trong các hoạt động kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân…
Đẩy mạnh thể chế hóa công vụ và thực hiện nghiêm Luật Công chức
Cải cách hành chính và thể chế hóa công vụ, thực hiện nghiêm chỉnh Luật Công chức hiện nay thực chất là để không ngừng hoàn thiện một nền hành chính hiện đại, để công chức và công vụ của nước ta thực sự trở thành “công bộc, đày tớ của nhân dân”. Mục tiêu cụ thể là phải tạo ra được những thiết chế, bộ máy, nguồn . Đó là cơ sở để thực hiện quyền và nghĩa vụ giữa nhà nước và công dân; hiện đại hóa và khoa học hóa nền công vụ, khắc phục tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ lạm dụng, lợi dụng quyền lực nhà nước để mưu lợi riêng… Đó là những bước tiến cơ bản của việc cải cách bộ máy nhà nước, chuyển từ một bộ máy thiên về thống trị, kiểm soát, điều hành… thành một bộ máy phục vụ xã hội, một nền hành chính “thật sự của dân, do dân và vì dân”.nhân lực và phương thức quản lý để xây dựng chế độ dân chủ XHCN
Tiếp tục thực hiện các cơ chế mới để đảm bảo công khai hoá, minh bạch hoá các thủ tục hành chính, chống phiền hà và mất thời gian của nhân dân khi tới cơ quan nhà nước, đồng thời nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức đối với dân để góp phần đổi mới mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân. Việc làm này giúp cho cán bộ – công chức nhà nước trở thành những công chức chuyên nghiệp, thạo việc, công tâm. Nó cũng giúp cho dư luận xã hội được lành mạnh hoá: làm cán bộ là làm việc cho dân, làm người chân chính chứ “không phải là con đường để thăng quan phát tài”; cán bộ là “công bộc” của dân chứ không phải là nhóm xã hội được hưởng đặc quyền. Nó cũng góp phần điều chỉnh những lệch chuẩn, sai lệch giá trị xã hội đang xuất hiện ngay cả trong cơ quan nhà nước.
Công khai, minh bạch và tăng cường sự giám sát hoạt động hành chính công hiển nhiên là giải pháp tất yếu để khắc phục những vấn đề của hiện trạng hành chính nước ta. Tăng cường tính chuyên môn và đạo đức của người công chức và tính nêu gương của cán bộ lãnh đạo cũng là một trong những khâu rất quan trọng để thúc đẩy sự nghiệp CCHC. Đó cũng chính là thể hiện sự thấm nhuần và vận dụng sáng suất những quan điểm, những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xây dựng một nền hành chính Việt Nam hiện đại, hiệu quả và tận tụy phục vụ nhân dân.
 
Chú thích:
(1). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1995, t.4, tr.11
(2). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.160
(3). Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG H.2000, t.8, tr.26-27
(4). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sdd, t.8, tr.440
(5). Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sdd, t.7, tr.274
(6). Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sdd, t.7, tr.572-574
(7). Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sdd,t.5, tr.60
(8). Hồi ký Vũ Đình Hoè, Nxb Hội Nhà văn, H.2004, tr.60