Bác Hồ với phụ nữ miền Nam

Hồ Thị Quỳnh Trang
                                                 Phòng TTGD
 
          Sinh thời Bác Hồ luôn quan tâm và đánh giá cao vị trí, vai trò của phụ nữ trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam. Bác từng nhấn mạnh: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cùng già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”(1)... Suốt cả cuộc đời, Bác đã dành cho chúng ta nhiều tình cảm quý giá, chẳng những riêng cho một ai mà gần như cả dân tộc đều được tận hưởng những giá trị tình cảm này. Nhưng có lẽ trong muôn ngàn dòng suối nghĩa tình đó, đối với phụ nữ Việt Nam - thế hệ đã thoát ra từ gông cùm của một quá khứ, đậm đặc cô đọng cả hàng ngàn năm phong kiến, thì giá trị tình yêu thương mà Bác đã dành cho họ càng sâu nặng nghĩa tình nhiều hơn. Với phụ nữ miền Nam nói riêng, tình yêu thương của Bác dành cho cũng thật là đặc biệt, không chỉ là yêu thương mà còn là nỗi lòng đau đáu dành cho đồng bào đang rên xiết dưới ách xâm lược của đế quốc Mỹ. Người rơi lệ mỗi khi nghe tin đồng bào miền Nam bị giết hại, vui mừng khi nghe tin miền Nam thắng trận. Năm 1969, trả lời một nhà báo Cuba, Bác Hồ đặt tay lên ngực và nói:“Nhân dân miền Nam, mỗi nhà, mỗi người đều có một nỗi đau. Đem cộng tất cả những nỗi đau đó lại thì đấy là nỗi đau của tôi”(2). Tình cảm của Bác Hồ với phụ nữ miền Nam không chỉ thể hiện qua thư, điện, thăm hỏi, quà tặng, mong muốn vào thăm hỏi, động viên đồng bào miền Nam mà còn biểu hiện sinh động, sâu sắc qua những cuộc gặp gỡ với các nữ đồng chí Nam bộ ra thăm miền Bắc.
          Đầu tháng 12-1954, trong lần tập kết ra miền Bắc, đồng chí Nguyễn Thị Bình (nguyên Phó Chủ tịch nước VNDCCH - cháu ngoại của cụ Phan Châu Trinh, từng là bạn vong viên của Bác Hồ những ngày trên đất Pháp) lần đầu tiên được gặp Bác Hồ. Thời gian đó, chị được giữ các vị trí: phụ trách công tác ngoại giao của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Phó trưởng đoàn tại Hội nghị bốn bên, Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Trưởng đoàn ngoại giao Hội nghị bốn bên ở Pari. Sau những chuyến công tác ở nước ngoài, đồng chí thường được Bác gọi đến để hỏi thăm về hoạt động ngoại giao, về tình hình bà con Việt Kiều. Bác luôn dặn dò đồng chí cần phải cố gắng làm tốt công tác của mình, đấu tranh ngoại giao không phải dễ dàng, cần kiên trì, không làm nhanh được. Công tác ngoại giao có lúc nguy hiểm như ngồi trên lưng cọp vì thế phải luôn bình tĩnh, vững vàng. Đồng chí Bình không ngờ rằng đó chính là lần cuối cùng được gặp Bác, được nghe những lời dạy bảo đầy ân tình của Bác, được ăn bữa cơm cuối cùng với người Cha vô cùng thân thiết kính yêu.
      Vào dịp kỷ niệm ngày miền Nam kháng chiến, đồng chí Hồ Thị Bi (Đại tá, Anh hùng LLVTND) ra Việt Bắc dự Hội nghị phụ nữ Trung ương họp bàn về việc tiếp quản Thủ đô. Trong lần đó, đồng chí được gặp Bác Hồ. Bác hỏi về đời sống chiến đấu và sản xuất của quân dân Nam Bộ; hỏi cả chuyện học hành và sinh hoạt của anh chị em chiến sĩ. Bác rất muốn hiểu về hoàn cảnh và tâm tình của chị em phụ nữ trong Nam. Bác biết chị có hai con đang gửi bà con trong Nam và thấu hiểu nỗi lòng của người mẹ lúc xa con nên những lần gặp, Bác thường hỏi thăm: Các cháu có gửi thư cho cô không ? Bác như người cha hết mực thương yêu con cái, nhưng cũng hết mực dạy bảo con cái từng việc nhỏ. Có lần đi họp Quốc hội, Bác vừa thấy chị liền hỏi: - Cô Bi có biết tình hình chị em trong quê mình chiến đấu ra sao không ?(3) Lúc đó chị lúng túng chưa biết thưa với Bác thế nào thì Bác liền lấy trong túi áo ra một mảnh giấy đưa cho chị và nói: - Đây là báo cáo về cháu Lý ở Hóc Môn. Địch bắt được tra tấn dã man nhưng cháu nhất định không khai. Chúng lấy bàn chông định đập tay cháu vào. Nhưng cháu không đợi chúng phải làm chuyện đó, cháu Lý tự mình đập tay xuống. Mười mũi chông đâm suốt cả bàn tay. Gan dạ lắm! Thế cô đã viết thư về động viên chị em chưa? Chị nghẹn ngào: - Dạ, cháu chưa được biết ạ(4). Bác nói : Người cùng quê hương, mà sao lại chưa biết(5). Lời Bác nhẹ nhàng nhưng thấy thấm thía vô cùng. Bác bận trăm công nghìn việc mà không có việc nào Bác lại không quan tâm tới. Tình cảm của Bác đối với đồng bào miền Nam bao la vô hạn.
       Thoát khỏi cảnh ngục tù tăm tối, dã man của bọn xâm lược Mỹ, chị Trần Thị Nhâm (Anh hùng LLVTND) (tức Trần Thị Lý) được đưa ra miền Bắc chữa bệnh từ những ngày đầu tháng 11 năm 1958. Trong những ngày tháng nằm điều trị tại bệnh viện hữu nghị Việt – Xô, Bác đã nhiều lần đến thăm nhưng lúc đó chị mê man không biết gì cả. Một hôm tỉnh dậy và thấy Bác đứng bên cạnh, vì quá ngỡ ngàng và xúc động, chị òa khóc: “Bác ơi, các cô các chú trong nhà tù và đồng bào miền Nam mong nhớ Bác lắm!”(6). Được sự quan tâm, săn sóc rất mực tận tình của Bác, của Đảng, được sống trong tình thương yêu ruột thịt không bờ bến của đồng bào miền Bắc, và cả sự chia sẻ đau thương của nhân dân thế giới, 42 vết thương trên cơ thể chị do giặc gây ra dần dần lành khỏi, sức khỏe dần dần hồi phục. Sau đó chị được vào thăm nơi Bác ở. Bác hỏi về quê quán và bệnh tình của chị, hỏi thăm sức khỏe các cô chú, anh chị cùng ở nơi an dưỡng. Bác hỏi về tình hình đời sống, đấu tranh của chị em phụ nữ miền Nam và tình hình các đồng chí ở cùng chị trong tù bị tra tấn như thế nào… Chị kể: “Sau những trận đòn tra tấn dữ dội, các chú chân bị cùm, tay bị xâu dây thép cùng với cháu, độ vài ngày sau lên cơn giật rồi chết dần, chết mòn... Chỉ còn lại một mình cháu. Cháu cũng không hiểu tại sao cháu lại không chết”. Bác hỏi: “Tại sao cháu bị chúng tra tấn dã man mà cháu cũng không khai?”(7). Chị nghĩ lúc đó nếu khai thì sẽ mất hết tình thương của cách mạng, của Bác và của các chú, các cô đã đùm bọc, dạy dỗ lúc ở trong tù. Nếu khai thì có tội với đồng bào… Bác rơm rớm nước mắt nói: “- Nghĩ đến cháu, mọi người đều căm thù sâu sắc chế độ Mỹ - Diệm ở miền Nam”(8). Bác kể cho chị nghe những mẩu chuyện lúc Bác hoạt động ở nước ngoài, những mẩu chuyện trong thời kỳ kháng chiến để động viên, cổ vũ chị cũng như phụ nữ, thanh niên miền Nam dù hy sinh gian khổ đến mấy cũng luôn luôn phát huy truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc ta, quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ và bè lũ tay sai. Bác căn dặn phải luôn luôn vui vẻ, lạc quan để chiến thắng bệnh tật. Vào một chiều xuân 1968 chị lại được vào thăm Bác. Thấy Bác vẫn đang làm việc, lo lắng cho sức khỏe của Người nên chị bảo Bác giữ gìn sức khỏe để vào thăm đồng bào miền Nam... Nghe chị nói vậy, Bác xúc động nói:- Bác phải làm việc nhiều thì miền Nam mau thống nhất, Bác sẽ vui nhiều, khỏe nhiều(9). Suốt cuộc đời của Bác, Bác đã đặt hết tâm lực vào cuộc đấu tranh giải phóng đất nước. Từng giờ, từng phút, Bác lo cho miền Nam. Bác đã hy sinh hạnh phúc cá nhân vì nghĩa cả dân tộc.
Một buổi chiều nắng đẹp năm 1965, Đoàn đại biểu anh hùng, chiến sĩ thi đua các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam được vào thăm Bác, trong đoàn lúc đó có chị Tạ Thì Kiều đại biểu cho phụ nữ miền Nam và anh A Vai đại biểu cho dân tộc Tây Nguyên cảm thấy thật hạnh phúc khi được ngồi cạnh Bác. Chị Kiều báo cáo với Bác về tình hình chị em phụ nữ đấu tranh chính trị và đánh du kích, về những gương các em thiếu nhi ở miền Nam dũng cảm cùng với cô bác đánh giặc, lập nhiều thành tích vẻ vang. Bác vui mừng và nói: “Cuộc kháng chiến của đồng bào miền Nam ta chống giặc Mỹ xâm lược là toàn dân, toàn diện. Trẻ, già, gái, trai đều đánh giặc giỏi, sản xuất giỏi. Đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang đều giỏi”(10).
      Sau những ngày chiến đấu ở trong Nam, chị Trần Kim Cúc (Quảng Nam) và chị Mười Đồng Tháp (tức Nguyễn Thị Mười, quê ở Mỹ Tho) được ra thăm miền Bắc và ở lại nằm điều trị tại bệnh viện hữu nghị Việt - Xô. Hai chị được gặp Bác lần đầu tiên trong lúc đang nằm trên giường bệnh – đó là ngày 19-6-1966. Lúc vào thăm, Bác hỏi: - Các cháu ăn có nhiều không? Mỗi bữa ăn được mấy bát?(11). Chị thưa: - Dạ, hai chị em cháu ăn bằng nhau, mỗi bữa được lưng chén ạ(12). Hai mắt Bác nhìn hai chị đầy lo lắng, thương xót, rồi Bác nói:- Các cháu ăn như vậy là ít lắm. Phải gắng ăn nhiều hơn. Các cháu phải coi chữa bệnh, uống thuốc, ăn uống như nhiệm vụ, coi như là nhiệm vụ đánh Mỹ của các cháu ở miền Nam trước đây mới được”(13). Bác khuyên hai chị cố gắng chữa bệnh cho tốt và ăn nhiều cho chóng lại sức rồi Bác bảo: mỗi người công tác một nơi, bây giờ về đây nằm viện thì phải đoàn kết, thương yêu, săn sóc lẫn nhau, coi nhau như ruột thịt. Được sự quan tâm của Bác, của Đảng, Chỉnh phủ, bệnh của hai chị đã được chữa khỏi và may mắn lại được gặp Bác. Đó là buổi chiều cuối năm 1967, chị và chị Mười được vào gặp Bác ở một khu vườn rộng và đẹp. Bác và Thủ tướng hỏi thăm tình hình chữa bệnh của hai chị và sức khoẻ hiện nay; hỏi thăm các cô, chú, anh chị em ở cơ quan từ đồng chí phụ trách đến anh chị em phục vụ cấp dưỡng, từ chỗ ở đến bữa ăn có tốt, có ngon không? Bác hỏi thăm số anh chị em trong Nam mới ra miền Bắc chữa bệnh có được khoẻ không? Trai nhiều hay gái nhiều... Bác căn dặn nhiều điều quý báu và hỏi thăm nguyện vọng hiện nay của hai chị. Hai chị đều thưa với Bác có một ý muốn thiết tha là trở về quê hương tiếp tục chiến đấu. Bác khen chị Mười có nhiều kinh nghiệm khéo léo và đã anh dũng tổ chức đấu tranh chính trị thắng lợi. Bác cảm động nhìn hai chị bằng cái nhìn trìu mến của người ông đầy tình thương đối với những đứa cháu đang lặn lội nơi chiến trường khói lửa. Đến giờ ăn cơm, thấy hai chị ăn rụt rè, Bác cứ gắp thức ăn bỏ vào chén hai chị. Những cử chỉ yêu thương trìu mến và hết sức thân mật, giản dị của Bác, làm hai chị cảm động không cầm được nước mắt.
      Vào một sáng tháng 5, chị Nguyễn Thị Châu và chị Phan Thị Quyên bất ngờ được gặp Bác và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Bác hỏi chị Châu về miền Nam. Bác chú ý nhiều đến phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên Sài Gòn và các thành thị ở miền Nam. Trong bữa cơm ăn cùng Bác hôm đó, chị rất xúc động khi thấy Bác quan tâm: -“Mỗi bữa cháu ăn được mấy chén?- Dạ, thưa Bác, bình thường cháu ăn được hai chén”(14). Bác cười và nói: “Các cháu là thanh niên phải ăn khỏe để đánh thắng giặc Mỹ chứ!”(15). Sau đó Bác còn hỏi: “Chiến sĩ, đồng bào và cán bộ trong đó đánh giặc rất giỏi, nhưng ăn mặc có đủ không?”(16). Chị báo cáo với Bác là nhờ bảo đảm được sản xuất tự túc và cải thiện đời sống cho nên ăn mặc cũng đủ, đồng bào ít khi bị đói. Bộ đội vừa đánh giặc vừa tăng gia, sản xuất tự túc được ít nhiều. Những vùng miền Đông, Khu 6, Khu 10 trước kia có lúc đói lắm, bây giờ tình hình đã khá hơn.... Bác và Thủ tướng khen việc làm đó rất tốt. Bác hỏi tỉ mỉ cả về tình hình công tác và học tập của cán bộ, của các cháu gái và các cháu thiếu nhi.
      Mùa xuân năm 1968, chị Trần Thị Bưởi (dũng sĩ diệt Mỹ năm 1968 ở trận Khe Sanh) được làm đại biểu trong Đoàn thanh niên giải phóng miền Nam đi dự Đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới lần thứ chín ở Xôphia. Sau đại hội, đoàn thanh niên được gặp Bác và đồng chí trưởng đoàn Trần Văn Tư báo cáo với Bác về đại hội. Bác nói: - Có bạn bè thế giới ủng hộ như vậy, các cháu có tin rằng ta nhất định thắng hay không?(17) - Có ạ! Các chị đồng thanh đáp. Bác cười vui vẻ: - Đúng! Chúng ta nhất định thắng, miền Nam nhất định được giải phóng(18). Bác cũng căn dặn: Đừng vì thấy bạn bè thế giới kính nể, tôn trọng mà huênh hoang, tự mãn. Phải khiêm tốn và phải quyết tâm đánh thắng Mỹ lớn hơn nữa. Vì có thắng Mỹ lớn thì bạn bè mới càng thương yêu ta nhiều hơn, và như vậy là ta không phụ lòng của bè bạn thế giới(19). Sau đó ít lâu, Bác cho gọi chị, chị Trương Thị Khuê, anh hùng các lực lượng vũ trang của Vĩnh Linh cũng cùng đi dự Đại hội ở Xôphia về (trong đoàn đại biểu miền Bắc), và chị Nguyễn Thị Xuân, nữ dân quân Quảng Bình, một mình bắn rơi một máy bay phản lực Mỹ bằng súng bộ binh vào gặp Bác ở ngôi nhà nhỏ ở giữa vườn. Bác hỏi chị về chuyện đánh Mỹ ở Khe Sanh, về đời sống của anh chị em chiến sĩ quân giải phóng. Bác hỏi chị Xuân, chị Khuê về cuộc sống dưới hầm, bám ruộng đồng sản xuất và chiến đấu của bà con Vĩnh Linh, Quảng Bình. Bằng những mẩu chuyện cụ thể, mọi người thưa lại với Bác những tình cảm nồng thắm của bạn bè thế giới ở đại hội. Bác cảm động nói:- Miền Nam đã làm thơm danh Bác với bạn bè thế giới(20). Bác mời mọi người ăn kẹo và như hiểu được ý muốn của từng đứa cháu nhỏ, Bác cho lấy giấy gói mỗi người một phần. Sau đó Bác cho ra chụp ảnh chung với Bác. Lúc đó đã 5 giờ chiều, ánh nắng dìu dịu chiếu qua vườn cây cổ thụ càng tôn vẻ đẹp rất trang nhã trong vườn Bác. Bác sửa lại cổ áo và dẫn ba chị em ra chụp ảnh. Khi chuẩn bị chụp ảnh, Bác hỏi: - Cháu nào muốn đứng gần Bác?(21). Ba chị em vui sướng quá, ai cũng muốn được đứng gần Bác. Bác cười rất độ lượng:- Cho mỗi cháu đứng gần Bác một lần(22). Ngay lúc đó, Bác ân cần nói: - Cháu Bưởi miền Nam được đứng nguyên chỗ này(23). Chị Bưởi cảm động quá! Lúc nào Bác cũng nghĩ tới miền Nam, lúc nào Bác cũng dành cho miền Nam phần vinh dự nhất. Trong niềm vui hả hê đó, chị thấy nước mắt mình muốn trào ra... Bà con miền Nam biết được điều này sẽ cảm động và vui sướng biết chừng nào. Chụp ảnh xong, Bác dẫn mọi người đến trước nhà, dưới một gốc cây to có treo một bồn hoa phong lan vừa mới nở trắng ngần và tỏa mùi thơm ngào ngạt. Bác ngắt cho mỗi người một chùm và nói: - Các cháu về trong ấy nói với bà con mình Bác gửi lời thăm. Chúc bà con chiến đấu, sản xuất giỏi. Riêng ba cháu phải phấn đấu giành nhiều thắng lợi hơn nữa(24). Bác còn căn dặn:- Về trong ấy, các cháu cố gắng chiến đấu giỏi, sản xuất tốt và phấn đấu học tập. Các cháu nhớ nói với bà con trong ấy Bác có lời hỏi thăm(25).
“Miền Nam luôn ở trong trái tim Bác”. Miền Nam anh hùng có đội quân đấu tranh chính trị gồm hàng vạn chiến sĩ toàn là phụ nữ. Họ rất mưu trí và dũng cảm làm cho địch phải khiếp sợ và gọi họ là “đội quân tóc dài”. Phó Tổng tư lệnh Quân giải phóng là cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật là vẻ vang cho miền Nam, cho cả dân tộc ta(26).
Tình yêu của Bác đã làm xúc động triệu trái tim đồng bào miền Nam và đặc biệt là phụ nữ Việt Nam, đó chính là niềm tin, là động lực tiếp thêm sức mạnh và quyết tâm cho quân và dân ta làm nên thắng lợi hào hùng Mùa xuân năm 1975, giải phóng miền Nam đưa non sông thu về một mối, thực hiện trọn vẹn mong ước của Người. Hôm nay trong những ngày tháng kỷ niệm 40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và kỷ niệm 125 năm ngày sinh nhật Bác, nhắc lại tình cảm của Bác với nhân dân miền Nam và đặc biệt là phụ nữ miền Nam mỗi chúng ta đều cảm thấy vô cùng xúc động, càng nhớ Bác hơn!
 
 Chú thích:
 
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H.2000, t.2, tr.112.
2. Hồ Chí Minh -  Biên niên tiểu sử, Nxb CTQG, H.2009, t.10, tr.376-377.
3-5. Trong tình thương của Bác (Hồi ức nhiều tác giả), Nxb Quân đội Nhân dân, Nxb Trẻ, H.2001, tr.58-66.
6-9. Bác Hồ với đất Quảng, Nxb CTQG, H.2000, tr.170-178.
10-16. Nước non bừng sáng, Nxb Phụ nữ, H.1975.
17-25. Miền Nam trong lòng Bác, Nxb Thanh niên, H.1975.
26. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H.2000, t.12, tr.148-150.