Chủ tịch Hồ Chí Minh với Bắc Giang

Nguyễn Minh Đức
Phòng TTGD
Bắc Giang là một tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ; phía Bắc giáp Lạng Sơn, phía Đông giáp Quảng Ninh, phía Tây giáp Thái Nguyên và Hà Nội, phía Nam giáp Bắc Ninh và Hải Dương. Tỉnh Bắc Giang được thành lập ngày 10-10-1895, tách từ tỉnh Bắc Ninh. Ngày 27-10-1962, Bắc Giang nhập với Bắc Ninh thành tỉnh Hà Bắc và đến ngày 1-1-1997 lại tách ra như cũ.
Bắc Giang là miền đất cổ, quê hương của nhiều anh hùng dân tộc, danh nhân như: Đào Sư Tích, Trần Nguyên Hãn, Thân Nhân Trung, Nguyễn Đắc Thọ, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Văn Mẫn, Hà Thị Quế, v.v… Dưới thời đại Hồ Chí Minh, ngọn lửa yêu nước kháng chiến ở vùng đất này đã thiêu cháy hàng vạn giặc Pháp, hàng trăm máy bay Mỹ, góp phần dập tắt mưu đồ đen tối của bọn đế quốc, thực dân đối với Tổ quốc ta.
Ngay từ những năm bôn ba tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến cuộc sống và con người Bắc Giang. Ngày còn hoạt động ở Pháp, Người đã chú ý đến cuộc khởi nghĩa Yên Thế và người anh hùng Hoàng Hoa Thám. Trong tác phẩm: “Đây! Công lý của thực dân Pháp ở Đông Dương”, Người viết: “Người anh hùng dân tộc ấy, cùng với một ít nghĩa quân kiên quyết của ông đã chiếm lĩnh một tỉnh nhỏ và đương đầu với thực dân Pháp trong nhiều năm... Nhà ái quốc Đề Thám chết, công cuộc chống Pháp có tổ chức và có vũ trang mới chấm dứt” (1).
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, dù bộn bề công việc nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian quan tâm tới Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bắc Giang. Trước khi lên đường sang thăm nước Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về thăm thị xã Bắc Giang lần đầu tiên vào đầu tháng 5-1946. Trong buổi nói chuyện với nhân dân, Người thay mặt Chính phủ kêu gọi đồng bào Bắc Giang hãy tích cực sản xuất, phải học để biết chữ và sẵn sàng chống giặc ngoại xâm. Nghe theo lời căn dặn của Người, nhân dân Bắc Giang đã tăng cường đoàn kết, thực hiện kháng chiến đi đôi với kiến quốc. Rất nhiều cá nhân, đơn vị đã gửi thư lên Chủ tịch Hồ Chí Minh để thăm hỏi và biểu thị quyết tâm của mình. Cảm động trước những hành động yêu nước thiết tha đó, Người đã gửi thư chung cho các tỉnh, trong đó có tỉnh Bắc Giang. Trong thư có đoạn: “Tôi luôn luôn nhớ đến tình thân mật của các đồng bào đối với tôi trong những lúc chúng ta làm việc với nhau… Tôi luôn nhớ đến lúc tôi đau ốm, anh chị em săn sóc ân cần như ruột thịt. Vì vậy, người tôi tuy xa cách nhưng lòng tôi luôn luôn gần anh em” (2).
Trong không khí gấp rút cùng với cả nước xây dựng lực lượng chuẩn bị kháng chiến lâu dài, ngày 17-11-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bắc Giang lần thứ hai. Người tới thăm Bệnh viện tỉnh, Trường cán bộ Chu Văn Tấn, Trường trung học Hoàng Hoa Thám và ăn cơm trưa tại Uỷ ban hành chính Bắc Giang. Sau đó, Người nói chuyện với linh mục Mayo (Mayor) và hai vị linh mục khác. Người tỏ ý rất vui vì linh mục Mayo và Áctôra đã gây được hoà khí đoàn kết lương - giáo. Sau đó, Người tiếp các đại biểu Hoa kiều, hỏi han về tình hình buôn bán và khuyên bà con nên hiểu biết lẫn nhau để duy trì hoà khí, tinh thần đoàn kết vốn có giữa hai dân tộc Hoa - Việt.
Ngày 19-12-1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, cùng với nhân dân cả nước nghe theo lời kêu gọi của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều làng mạc của Bắc Giang đã thực hiện “vườn không nhà trống”, tản cư để ngăn bước tiến của quân thù. Xúc động trước tấm lòng yêu nước của Bắc Giang, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư ân cần động viên nhân dân. Người quan tâm từ việc phòng chống bão lụt, củng cố chính quyền nhân dân đến việc học hành. Đặc biệt, hiểu rõ khi bước vào cuộc kháng chiến, chính quyền nhân dân còn non trẻ cho nên đã gặp nhiều khó khăn, bỡ ngỡ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều thời gian chăm lo, củng cố bộ máy hành chính để phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân được tốt hơn. Ngày 9-2-1948, Người đã gửi thư tới Ủy ban hành chính tỉnh Bắc Giang để nghiêm khắc phê bình những khuyết điểm về các mặt quân sự, hành chính, kinh tế, văn hóa, giáo dục và y tế. Người còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phải chấn chỉnh và chuyển hướng về nhận thức, về tư tưởng và các biện pháp thực hiện. Nhiệm vụ của các đồng chí cán bộ tỉnh và huyện được Người giao cho là: “Phải căn cứ vào những khuyết điểm nói trên và những khuyết điểm mình tự nhận thấy, mà lập tức lập một chương trình thiết thực, bệnh nào thuốc ấy để sửa chữa ngay những khuyết điểm đó…Các đồng chí có thể làm, các đồng chí phải làm cho kỳ được” (3).
Sau chiến thắng Việt Bắc, để động viên mọi lực lượng kháng chiến, tháng 6-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, đề ra nhiệm vụ diệt giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Một phái đoàn gồm 30 cán bộ được cử xuống Bắc Giang với nhiệm vụ thanh toán nạn mù chữ cho toàn tỉnh trong năm 1949. Nhận được báo cáo, Người đã gửi thư khuyến khích: “Quân và dân Bắc Giang hiện đang anh dũng chống giặc thực dân. Các bạn đó cũng là một đội quân hậu viện. Đồng bào Bắc Giang sẽ cố gắng vừa diệt giặc dốt vừa diệt giặc ngoại xâm” ().
Với chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày 20-7-1954, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, tháng 12-1954, Hội nghị tổng kết cải cách ruộng đất đợt 2 của đoàn Bắc Giang-Thái Nguyên đã được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh và nghe Người nói chuyện. Lúc bấy giờ, sau hai đợt cải cách ruộng đất, tỉnh Bắc Giang đã giành được nhiều thắng lợi; bước đầu thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng”, thực hiện giảm tô, giảm tức. Từ những thắng lợi ấy, một số cán bộ cải cách tỏ ra thỏa mãn rồi sinh ra tư tưởng ngại khó, ngại khổ. Một số khác còn biểu lộ ý thức tổ chức lỏng lẻo và mắc một số khuyết điểm khá trầm trọng trong việc thi hành đường lối giai cấp của Đảng ở nông thôn. Biết được điều này, tại Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích cặn kẽ từng khuyết điểm rồi đề ra nhiều biện pháp khắc phục những lệch lạc đó. Người căn dặn trên 2.000 cán bộ về dự hội nghị rằng: “Các cô, các chú phải quyết tâm sửa chữa những khuyết điểm Bác đã nêu lên, phải giữ vững kỷ luật, nâng cao tinh thần tổ chức, phải cố gắng thi đua ba cùng với quần chúng, làm đúng chỉ thị của cấp trên, làm đúng chính sách của Đảng và Chính phủ” (5). Lời nói ân cần và hình ảnh gần gũi của vị lãnh tụ tối cao của Đảng, của Chính phủ chính là nguồn động viên cho toàn thể cán bộ cải cách ruộng đất vượt qua mọi khó khăn, thử thách, anh dũng phấn đấu để hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Cùng với toàn miền Bắc, công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh được tiến hành trên đất Bắc Giang. Đường giao thông thủy bộ được khôi phục, cầu cống được dựng nên. Tuyến đường xe lửa Hà Nội - Mục Nam Quan được nối dài qua đồng ruộng, đồi núi, qua sông Đuống, sông Cầu, sông Thương. Vào dịp sắp khánh thành chiếc cầu Phủ Lạng Thương (nay là cầu Bắc Giang, thuộc thành phố Bắc Giang), nhân dân Bắc Giang và anh em trong đội cầu vui mừng được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm vào ngày 24-1-1955. Tại đây, sau khi nghe đồng chí Đội trưởng Đội cầu Nguyễn Tường Lân báo cáo thành tích chung của công trường làm cầu Phủ Lạng Thương, Bác đi thăm cầu. Khi đi đến giữa cầu Người dừng lại nói chuyện với cán bộ, công nhân: “Hôm nay, Bác chỉ xem nửa cầu thôi. Bao giờ hoàn thành, Bác sẽ đi thăm cả cầu. Các chú có đồng ý như vậy không?”. Khi đó Bác đứng ngay bên đống gỗ của công trường, Bác hỏi han thêm tình hình ăn Tết, tổ chức đời sống sinh hoạt của anh em công nhân. Người biểu dương thành tích của cán bộ, công nhân ta, chuyên gia nước bạn và tinh thần giúp đỡ của nhân dân Bắc Giang đối với việc làm cầu. Người phân tích kỹ tầm quan trọng của tuyến đường Hà Nội - Mục Nam Quan, con đường huyết mạch nối liền đất nước ta với các nước anh em và hứa sẽ tặng nhiều giải thưởng cho những người có thành tích xuất sắc nhất. Anh em công nhân rất phấn khởi trước những lời dạy bảo ân cần của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mọi người đều quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ trước thời hạn để được đón Người về thăm lần nữa. Và chỉ trong thời gian 4 tháng, cầu Phủ Lạng Thương đã được hoàn thành, vượt trước kế hoạch được giao. Sau đó trong thư gửi dân công đã góp phần hoàn thành đường sắt Hà Nội - Mục Nam Quan, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định và đánh giá rất cao công lao của đồng bào Bắc Giang: “Bác thay mặt Đảng và Chính phủ khen ngợi cán bộ, chiến sỹ và đồng bào đã hoàn thành đường xe lửa Hà Nội - Mục Nam Quan. Cũng con đường ấy, trước kia người Pháp mất hơn 10 năm mới làm xong. Ngày nay dưới chính quyền nhân dân, chúng ta đã làm xong trong 4 tháng. Đó là một thành tích rất tốt đẹp… Có được những thành tích ấy là nhờ sức sáng tạo cố gắng của cán bộ, công nhân miền Nam và miền Bắc, thanh niên xung phong và đồng bào các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang…”(6). Đúng như lời hứa, Người đã gửi tặng cờ danh dự tặng chung cho cả công trường.
Ngày 8-2-1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nói chuyện với Hội nghị tổng kết cải cách ruộng đất đợt hai của đoàn Thái Nguyên - Bắc Giang. Sau khi biểu dương những cố gắng của cán bộ, nhân dân địa phương trong cải cách ruộng đất, Người chỉ rõ những khuyết điểm cần kiên quyết khắc phục như sợ khó, sợ khổ, quan liêu, chưa đi đúng đường lối công tác quần chúng của Đảng. Người nói: “Trong hội nghị này, các cô các chú phải làm gì? Phải thật thà, thành khẩn tự phê bình; phải nâng cao tinh thần kỷ luật; phải có tổ chức; phải có tinh thần tiến lên mãi... Lãnh đạo quan trọng nhất là lãnh đạo tư tưởng; rồi lãnh đạo tập thể; phải nâng cao kỷ luật, giữ vững kỷ luật...” (7). Cũng trong chuyến đi này, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn ghé thăm một số gia đình nông dân ở thôn Cẩm Xuyên, xã Trung Nghĩa, Hiệp Hoà.
Dưới ánh sáng của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (1960), nhân dân ta càng thêm phấn khởi và tin tưởng, ra sức thực hành ba cuộc Cách mạng: Cách mạng về quan hệ sản xuất, Cách mạng kỹ thuật, Cách mạng tư tưởng văn hóa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng đến cuộc cách mạng tư tưởng văn hóa. Đường lối và phương hướng sáng suốt của cuộc Cách mạng này đã được Người nêu lên trong dịp về thăm nhân dân Bắc Giang lần thứ 6, ngày 6- 4-1961. Trong bài huấn thị tại cuộc mít tinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của đợt chỉnh huấn trong toàn Đảng và toàn dân do Trung ương sắp phát động và nêu những công việc Bắc Giang cần làm để phát huy truyền thống vẻ vang sẵn có và giành thắng lợi trong “cuộc kháng chiến chống một thứ giặc khác: giặc lạc hậu và giặc nghèo nàn”. Người nói: “Về văn hóa: Việc bình dân học vụ ở tỉnh ta có cố gắng nhưng số người không biết đọc, biết viết vẫn còn khá nhiều (38.000 người). Nhất là ở Lục Ngạn, Sơn Động và Lục Nam. Trong năm nay, cần phải cố gắng thanh toán nạn mù chữ. Về Bổ túc văn hóa: Năm ngoái hơn 9 vạn người theo học, năm nay chỉ độ 4 vạn. Như vậy là phong trào không lên mà lại xuống. Cần phải đẩy phong trào lên mạnh hơn nữa”(8). Sau đó Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm hợp tác xã bậc cao Tân An (Yên Dũng). Người vào thăm một số gia đình xã viên, xem nơi ăn ở, hỏi han tình hình sức khoẻ, đời sống, công việc làm ăn của đồng bào và căn dặn mọi người phải chăm lo xây dựng hợp tác xã, xây dựng chi bộ, chi đoàn.
Do yêu cầu mới của cách mạng và sự nghiệp phát triển kinh tế, hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang được Quốc hội quyết định sát nhập thành tỉnh Hà Bắc vào năm 1962. Vào dịp Đại hội Đảng bộ toàn tỉnh lần thứ nhất ngày 17-10-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về thăm địa phương. Phát biểu ý kiến tại Đại hội, Người nhấn mạnh vấn đề đoàn kết nhất trí trong Đảng, nhất là khi hai tỉnh mới sát nhập. Người dặn dò các cán bộ phải tuyệt đối tránh địa phương chủ nghĩa, phải nhất trí về tư tưởng, về hành động, về tình cảm. Mỗi đảng viên phải khắc phục bệnh cá nhân chủ nghĩa, bệnh công thần, kèn cựa, không ai phục ai, không giúp đỡ nhau, không cộng tác chặt chẽ với nhau; phải đề cao cảnh giác cách mạng và chấp hành thật đúng các chính sách của Đảng. Người chỉ thị cho Đảng bộ tỉnh: “Từ nay phải có một sự chuyển biến mạnh dạn, mới mẻ và vững chắc trong mọi công tác để giành lấy những thắng lợi ngày càng to lớn hơn”(9).
Trước nguy cơ thất bại trong chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam, đế quốc Mỹ điên cuồng bắn phá miền Bắc bằng không quân và hải quân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi “Quyết tâm đánh giặc Mỹ xâm lược”, thúc giục nhân dân cả nước đứng lên bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc. Đáp lại lời kêu gọi của Người, toàn thể cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Hà Bắc không sợ hy sinh gian khổ, kiên quyết đánh địch trong mọi tình huống, bằng tất cả các loại vũ khí có trong tay. Hàng trăm máy bay của đế quốc Mỹ đã bị bắn rơi. Vừa chiến đấu, vừa sản xuất, sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế, thủy lợi, giao thông vận tải của Hà Bắc không ngừng phát triển và nâng cao.
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất vui trước những thành tích Hà Bắc đã đạt được. Tháng 10-1965, Người quyết định tặng cờ thưởng “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” cho quân và dân Hà Bắc. Hơn một năm sau, ngày 9-2-1967 (mồng 1 Tết Đinh Mùi), mặc dù sức khỏe đã giảm sút nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về thăm và chúc Tết Đảng bộ, đồng bào các dân tộc tỉnh Hà Bắc tại xã Tam Sơn (Tiên Sơn). Người ngợi khen những cố gắng của Hà Bắc trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, trong công tác trị an, trong sản xuất lương thực… Người còn căn dặn cán bộ đoàn viên phải thực sự đoàn kết, gương mẫu, tôn trọng dân chủ, phải lấy tinh thần quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược mà đẩy mạnh phong trào sản xuất chiến đấu của nhân dân. Đây cũng là lần cuối cùng nhân dân Hà Bắc được đón Bác về thăm.
Ngày 19-5-1969, mặc dù sức khỏe giảm sút, Bác vẫn viết thư khen ngợi các cháu thiếu niên “Hợp tác xã măng non Phú Mẫn” (xã Hàm Sơn, huyện Yên Phong, Hà Bắc) đã có nhiều cố gắng trong việc chăm sóc tốt trâu bò của hợp tác xã. Bức thư có đoạn: “Các cháu tuy tuổi còn nhỏ, cũng có thể làm những việc ích nước lợi dân. Các cháu là những người chủ tương lai của nước nhà, của hợp tác xã. Thiếu niên Việt Nam ta ngày nay cả ở hai miền Nam Bắc có nhiều cháu rất dũng cảm, thông minh, đã làm nên nhiều việc rất tốt đẹp trong học tập, sản xuất và chiến đấu”(10). Suốt 24 năm làm Chủ tịch nước, hầu như năm nào Bác cũng gửi thư cho các cháu thiếu niên, nhi đồng và đây là bức thư cuối cùng Bác Hồ gửi cho thiếu nhi Việt Nam. Một lần nữa Bác lại khẳng định lòng tin vào những người chủ nhỏ của đất nước, những thanh niên của tương lai dân tộc.
Gần một nửa thế kỷ Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa, công lao to lớn, đạo đức sáng ngời và tình cảm cao đẹp của Người còn sống mãi với Đảng bộ và nhân dân Bắc Giang. Thực hiện lời dạy của Người, cán bộ và nhân dân Bắc Giang đã nêu cao truyền thống đấu tranh anh dũng, đoàn kết hăng hái thi đua lao động sản xuất, học tập và công tác, góp phần cùng cả nước tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, xây dựng CNXH ở miền Bắc và chống Mỹ cứu nước thắng lợi.
Hiện nay, trên con đường đổi mới và hội nhập, Đảng bộ và nhân dân Bắc Giang đã nỗ lực phấn đấu thu được những thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội rất đáng tự hào. Năm 2011- năm đầu nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XVII, tỉnh Bắc Giang duy trì được tốc độ tăng trưởng đạt 10,5%; kim ngạch xuất khẩu đạt 760 triệu USD; tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt gần 2.200 tỷ đồng; thu hút trên 273 triệu USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Năm 2014, Bắc Giang đã đưa việc “Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” thành nội dung sinh hoạt thường xuyên của tổ chức đoàn, đảng; gắn với thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và giải quyết những vấn đề bức xúc của các ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị. Nhiều phong trào thi đua của các ngành, các cấp trong tỉnh đã được phát động gắn với học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh mang lại hiệu quả thiết thực. Toàn tỉnh đã có hơn 3.700 việc làm theo của tập thể và hơn 180.000 việc làm tốt của cá nhân được đăng ký thực hiện làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Tất cả những thành tựu trên là nhờ sự quan tâm dìu dắt của lãnh đạo Đảng và Bác Hồ. Khi sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho nhân dân Bắc Giang những tình cảm sâu nặng. Người đã 7 lần trực tiếp về thăm và nói chuyện với đồng bào đồng thời có nhiều bài viết, bức thư gửi cán bộ, nhân dân, chiến sĩ trong tỉnh. Đến nay, những lời căn dặn, nhắc nhở của Người vẫn luôn được cán bộ lãnh đạo và nhân dân Bắc Giang ghi nhớ. Hai di tích lịch sử gắn liền với sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Bắc Giang năm 1961, đó là Sân vận động thị xã Bắc Giang và địa điểm lưu niệm Bác Hồ về thăm Tân An cũng được tỉnh đầu tư nâng cấp, cải tạo để phát huy giá trị to lớn của các di tích, giúp thế hệ trẻ ngày nay hiểu thêm về tình cảm của Bác dành cho mảnh đất, con người Bắc Giang.
 
Chú thích:
1) Bác Hồ với Hà Bắc, Ty Văn hoá Hà Bắc xuất bản, 1972, tr. 16.
2) Bác Hồ với Hà Bắc, Ty Văn hoá Hà Bắc xuất bản, 1972, tr. 19.
3) Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2006, t. 4, tr. 156.
4) Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2006, t. 4, tr. 334.
5) Bác Hồ với Hà Bắc, Ty Văn hoá Hà Bắc xuất bản, 1972, tr. 23-24.
6) Bác Hồ với Hà Bắc, Ty Văn hoá Hà Bắc xuất bản, 1972, tr. 25.
7) Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2008, t. 6, tr. 33.
8) Bác Hồ với Hà Bắc, Ty Văn hoá Hà Bắc xuất bản, 1972, tr. 95-96.
9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t. 14, tr. 185.
10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2011, t. 15, tr. 569.