Ý CHÍ VÀ NGHỊ LỰC CỦA NGUYỄN TẤT THÀNH KHI RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA THẾ HỆ TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY

                                                                            ThS. Nguyễn Anh Minh - PGĐ Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
 
Ngày 5/6/1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã rời Bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước. Đây là sự kiện lịch sử mở ra một bước ngoặt trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Cho đến hôm nay, sau 100 năm của sự kiện lịch sử đó, nhiều người dân trong nước và bè bạn trên thế giới vẫn đang tìm câu trả lời một cách đầy đủ nhất cho những câu hỏi: Vì sao Nguyễn Tất Thành một mình với hai bàn tay trắng, dám vượt đại dương đi thẳng về phía kẻ thù của chính dân tộc mình để tìm con đường cứu nước? Vì sao những khó khăn gian khổ trên hành trình bôn ba tìm đường cứu nước vẫn không làm Người chùn bước, hay trước sự xa hoa tráng lệ của những đô thị và cuộc sống ở phương Tây hay nước Mỹ mà Người có dịp đặt chân đến vẫn không thể cám dỗ và làm lay chuyển được sự quyết tâm và lập trường kiên định của Người?... Có thể khẳng định ý chí và nghị lực là hai yếu tố rất quan trọng giúp Nguyễn Tất Thành quyết tâm đi ra tìm đường cứu nuớc và cũng chính ý chí, nghị lực đã giúp Anh vượt qua tất cả những khó khăn, gian khổ trong hành trình suốt 30 năm bôn ba khắp châu lục trên thế giới để tìm con đường đi cho dân tộc Việt Nam.
Ý chí và nghị lực là những tố chất, năng lực tâm lý hình thành và tồn tại,  phát triển ở con người. Ý chí là khả năng tự xác định mục đích cho hành động và quyết định hướng hoạt động của mình, khắc phục mọi khó khăn nhằm đạt mục đích đó. Nghị lực là sức mạnh tinh thần tạo cho con người sự kiên quyết trong hành động, không lùi bước trước những khó khăn. Người có ý chí và nghị lực là người hội tụ đủ ba yếu tố: có sáng kiến, biết quyết định và hành động. Có sáng kiến là người biết tự vạch ra con đường đi, quyết định phải nhanh để hoạt động cho kịp thời, không do dự mà bỏ lỡ cơ hội. Song quan trọng nhất là việc thực hành và muốn thực hành phải bền chí hành động, gặp trở ngại gì cũng vượt qua cho được, phải tự chủ được mình, thắng các cám dỗ ở bên ngoài.
Ý chí và nghị lực ở mỗi con người được hình thành và phát triển khác nhau và chịu sự tác động, ảnh hưởng trong những điều kiện môi trường sống và hoàn cảnh lịch sử cụ thể, cũng như phụ thuộc rất lớn ở quá trình nhận thức ở mỗi một con người khác nhau. Ở Nguyễn Tất Thành, ý chí và nghị lực được hình thành phát triển trong môi trường sống và điều kiện hoàn cảnh lịch sử của đất nước và được bồi đắp bởi quê hương, làng xóm, gia đình, từ chính những tố chất thông minh, ham học hỏi, được thừa hưởng từ cha mẹ và từ tấm lòng yêu nước, thương dân cũng như từ quá trình nhận thức của Người.
Người sinh ra và lớn lên khi đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, nhân dân bị lầm than đói khổ; quê hương Người là mảnh đất Nghệ Tĩnh, nơi giàu truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm, nơi nuôi dưỡng nhiều anh hùng nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam như : Mai Thúc Loan, Nguyễn Biểu, Đặng Dung, các lãnh tụ yêu nước cận đại như : Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu… Nguyễn Tất Thành được sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước gần gũi với nhân dân, thân phụ là một nhà nho giàu lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, có ý chí kiên cường vượt gian khổ, khó khăn để đạt được mục tiêu, chí hướng. Thân mẫu của Người là người phụ nữ lao động cần cù, hết mực cần mẫn, đảm đang, đôn hậu, hết mực thương yêu và chăm lo cho chồng con. Nguyễn Tất Thành được gắn bó bên cha mẹ, bên ông bà ngoại, anh chị trong tình thương yêu đùm bọc của gia đình, bà con làng xóm quê hương trong những  năm tháng tuổi thơ. Những tình cảm đó đã nảy nở tình yêu đất nước và ý chí sẵn sàng hy sinh tình nhà vì đất nước vì dân tộc.
Từ nhỏ Nguyễn Tất Thành đã đau xót chứng kiến cuộc sống nghèo khổ, bị đàn áp, bóc lột cùng cực của đồng bào mình ngay trên chính mảnh đất quê hương. Những tội ác dã man của thực dân Pháp và thái độ ươn hèn, bạc nhược của bọn quan Nam triều. Anh càng cảm thông sâu sắc nỗi cực khổ của người lao động, nỗi nhục mất nước của các sĩ phu, anh nhận thấy ở đâu dân cũng lam lũ đói khổ, nên dường như họ đang âm ỉ những đóm lửa muốn thiêu cháy bọn áp bức bóc lột thực dân phong kiến. Trước cảnh thống khổ của người dân mất nước đã tiếp thêm nghị lực và ý chí quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước, đánh đuổi thực dân Pháp giải phóng đồng bào.
Ở Nguyễn Tất Thành, ý chí và nghị lực thể hiện trước hết ở khả năng tự xác định mục đính cho hành động và quyết định hướng hoạt động của mình, là tự vạch ra con đường đi cho riêng mình. Khi còn rất nhỏ Nguyễn Tất Thành là cậu bé có tố chất thông minh, ham học hỏi, thích đọc sách, nghe kể chuyện, ham hiểu biết về những điều mới lạ. Những ngày tháng theo cha trở lại quê nội, sau khi mẹ và em mất ở Huế, Nguyễn Tất Thành được cha gửi đến học chữ Hán với các thầy giáo có tư tưởng yêu nước tiến bộ như thầy Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý và sau là thầy Trần Thân. Những tâm tư phản kháng chế độ thực dân phong kiến của các Thầy lớn dần, thấm sâu và ảnh hưởng đến tư tưởng yêu nước thương dân của anh. Qua những buổi bàn luận thời cuộc giữa các thầy với các sĩ phu yêu nước, Nguyễn Tất Thành dần hiểu được thời cuộc và sự day dứt của các bậc cha chú trước cảnh nước mất nhà tan. Trong những người mà cha anh thường gặp gỡ đàm đạo có Phan Bội Châu là nhà nho yêu nước, Nguyễn Tất Thành thường nghe cụ Phan ngâm hai câu thơ của Viên Mai:
“ Mỗi bữa (ăn) không quên ghi sử sách,
Lập thân hèn nhất ấy (là) văn chương”
Câu thơ đó có tác động rất nhiều đến Nguyễn Tất Thành, góp phần định hướng cho một hoài bão lớn dần lên trong Anh, càng đi vào cuộc sống của người dân địa phương, Nguyễn Tất Thành càng thấm thía và đau xót trước thân phận của người dân mất nước, Anh đến nhiều nơi trong tỉnh, ngoài tỉnh, những chuyến đi ấy là điều kiện tốt để Nguyễn Tất Thành hiểu sâu rộng hơn và tầm nhìn xa hơn. Anh không khỏi băn khoăn khi thấy nhiều cuộc nổi dậy của dân ta không thành công và câu hỏi “ làm thế nào để cứu nước ” sớm hình thành lớn dần trong tâm trí Anh. Những ngày được Cha xin cho học lớp dự bị ở Trường tiểu học Pháp bản xứ ở thành phố Vinh, Nguyễn Tất Thành lần đầu tiên được tiếp xúc với khẩu hiệu Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Từ đó Anh muốn tìm hiểu nền văn minh Pháp và những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy. Điều đó, hơn mười năm sau khi trả lời phỏng vấn một nhà báo Nga rằng: “Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ tự do, bình đẳng và bác ái… và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm hiểu xem những gì ẩn giấu những từ ấy”(1). Thời gian học tại trường Quốc học Huế, Nguyễn Tất Thành được giao lưu với những luồng tư tưởng yêu nước, tiếp xúc với nhiều sách báo Pháp, các thầy giáo của trường có những người yêu nước. Chính nhờ ảnh hưởng của các thầy giáo yêu nước và sách báo tiến bộ mà Anh được tiếp xúc, Nguyễn Tất Thành mang một bản lĩnh mới, một tầm nhìn sâu sắc về xã hội, con người, ý muốn sang phương tây tìm hiểu tình hình các nước và học hỏi những thành tựu của văn minh nhân loại từng bước lớn dần cổ vũ cho ý chí ra đi tìm đường cứu nước. Những tháng ngày làm thầy giáo ở trường Dục Thanh,  Phan Thiết, ngoài giờ lên lớp, Anh thường tìm những cuốn sách quý trong tủ sách của cụ Nguyễn Thông để đọc. Lần đầu tiên anh được tiếp cận với những tư tưởng khai sáng Pháp như: Rútxô, Vônte, Môngtétxkiơ… Sự tiếp cận với những tư tưởng mới đó càng thôi thúc ý chí và nghị lực anh phải đi ra nước ngoài. Một lần trả lời nhà văn Mỹ, Người nói: “ Nhân dân Việt Nam trong đó ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp, Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”(2).
Có thể nói rằng, Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên khi đất nước bị thực dân Pháp xâm lăng. Nhân dân bị nô lệ, lầm than đói khổ. Với tố chất là con người thông minh, ham học hỏi và thích khám phá những điều mới lạ. Thời gian sống ở Kinh đô Huế được học hành và tiếp xúc với nền văn hoá mới, với phong trào Duy Tân, cũng như được tiếp cận với những tư tưởng khai sáng Pháp đã cho Nguyễn Tất Thành nhiều hiểu biết mới và tư duy, tư tưởng mới tiến bộ. Nhìn lại các phong trào yêu nước như phong trào Cần Vương, phong trào Đông Du, phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, khởi nghĩa Yên Thế, cuộc vận động cải cách của cụ Phan Châu Trinh… Anh rất khâm phục và coi trọng các các bậc tiền bối, nhưng Nguyễn Tất Thành không đi theo con đường đó. Thực tiễn thất bại của các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX đã đặt ra nhiều câu hỏi và tác động đến chí hướng của Nguyễn Tất Thành, để rồi anh tự xác định mục đính cho hành động và định hướng hoạt động của mình, để có một quyết định chính xác và táo bạo, tự vạch ra con đường đi là xuất dương tìm đường cứu nước cho dân tộc.
          Ý chí và nghị lực của Nguyễn Tất Thành còn thể hiện sâu sắc ở sự khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, không lùi bước trước những khó khăn, trở ngại, luôn tự chủ được mình, vượt qua các cám dỗ ở bên ngoài, kiên định lập trường, nhằm mục đính tìm con đường cứu dân tộc Việt Nam thoát khỏi nô lệ lầm than. Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, những năm còn nhỏ Nguyễn Tất Thành đã trải qua cuộc sống khó khăn, thiếu thốn và cả nỗi đau và sự mất mát, nhất là những ngày tháng chuyển vào Huế lần đầu tiên, đó là thời gian gia đình Anh sống trong cảnh gieo neo, thiếu thốn, mẹ ngày đêm cần mẫn dệt vải, cha phải tranh thủ thời gian rỗi đi chép chữ thuê, dạy học để có thêm thu nhập cho cuộc sống khó khăn của gia đình. Có thể nói nỗi đau mất mát lớn nhất đầu tiên tác động đến tình cảm, ý chí và nghị lực trong cuộc đời Nguyễn Tất Thành đó là vào năm 1900. Cha đi coi thi ở Thanh Hoá, Nguyễn Tất Thành về ở với mẹ trong nội thành Huế, mẹ sinh bé Xin trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn, thiếu thốn, nên lâm bệnh và qua đời, không bao lâu sau bé Xin quá yếu cũng theo mẹ. Mới 11 tuổi Nguyễn Tất Thành đã phải chịu nỗi đau mất mát quá lớn, mất mẹ và em. Hoàn cảnh khó khăn cùng với nỗi đau và sự mất mát đã tiếp thêm cho Nguyễn Tất Thành một ý chí và nghị lực để vượt qua những thử thách, gian khổ trong cuộc hành trình tìm đường cứu nước của Anh sau này.
Những năm tháng của cuộc hành trình 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước là những tháng năm Nguyễn Tất Thành phải đối mặt và vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách. Những ngày khó khăn, cực nhọc đầu tiên đó là những ngày Anh làm phụ bếp trên tàu Latuso Torevin. Anh làm việc trong môi trường lao động khổ cực, trong bếp thì nóng, dưới hầm thì lạnh, Anh phải lao động từ lúc bốn giờ sáng quét dọn, đốt lò, lấy than, xuống hầm khiêng thực phẩm vào bếp, lao động quần quật từ sáng đến tối, ít có thời gian rảnh rỗi. Khó nhất là thời gian đầu chưa quen lao động chân tay nặng nhọc và môi trường lênh đênh trên sóng biển. Nhiều lúc tưởng chừng như Anh không vượt qua nổi thử thách đầu tiên. Nhưng ý chí và nghị lực kiên cường, càng gian khổ, khó khăn sức chịu đựng của Anh ngày càng rắn rỏi. Công việc quen dần, nỗi vất vả như lùi lại phía sau mỗi hải lý con tàu vượt qua. Những năm tháng đặt chân đến Anh, Pháp, Mỹ, Nguyễn Tất Thành đã phải trải qua những tháng ngày lao động gian khổ với nhiều nghề vất vả khó khăn để kiếm sống và nuôi chí lớn tìm con đường cứu nước. Những ngày ở trên nước Mỹ (1912), Nguyễn Tất Thành làm thuê tại Brúclin (ngoại thành Niu Oóc), còn ở nước Anh (1913), Nguyễn Tất Thành nhận quét tuyết cho một trường học, rồi nghề đốt lò và nhận việc rửa bát thuê, sau đó thợ làm bánh cho khách sạn Cáclơtơn. Những ngày trở lại Pháp (1917) cuộc sống hết sức khó khăn, Nguyễn Tất Thành làm thợ làm ảnh và nhiều nghề khác như : làm đồ giả cổ, vẽ quạt, lọ hoa, chao đèn… tiền kiếm được chẳng được bao nhiêu, cuộc sống vô cùng khó khăn, ăn uống thiếu thốn, tiết kiệm. Những ngày đông giá lạnh, buổi sáng trước khi đi làm, Anh để một viên gạch cạnh bếp lò, chiều về, Anh lấy viên gạch ra, bọc vào tờ báo cũ lót xuống giường nằm cho đỡ lạnh. Ăn uống thiếu thốn cùng với lao động và hoạt động vất vả, sức khoẻ của Nguyễn Tất Thành giảm sút, nhưng nhờ vào ý chí nghị lực rèn luyện Anh đã vượt qua những khó khăn về sức khoẻ để tiếp tục lao vào những hoạt động chính trị. Không chỉ gặp khó khăn, thiếu thốn về vật chất trong cuộc sống, mà trong cuộc hành trình suốt 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành luôn bị kẻ thù rình rập, theo dõi, giám sát, hăm doạ và tìm mọi thủ đoạn hãm hại Anh. Bản án tử hình vắng mặt (1929) và những ngày bị thực dân Anh bắt giam tại Hồng Kông (Trung Quốc) (1931) mà Anh đã trải qua và tất cả những khó khăn gian khổ đó không làm Nguyễn Tất Thành chùn bước. Ngược lại, những thử thách đó càng tiếp thêm cho Anh nghị lực, ý chí và sức mạnh để cổ vũ Anh vượt qua, kiên định lập trường của mình là tìm con đường cứu nước cho nhân dân Việt Nam.
Có thể nói, ý chí và nghị lực là tố chất rất quan trọng đối với mỗi một con người, giúp con người xác định mục đích và đưa ra những quyết định cho hướng hoạt động của mình và giúp con người vượt qua những khó khăn, thử thách nhằm đạt được mục đích. Ở Nguyễn Tất Thành ý chí và nghị lực mang tính nhân văn sâu sắc và được thể hiện ở một tầm cao mới, định hướng cho một mục đính cao cả là tìm đường cứu cả dân tộc thoát khỏi ách nô lệ, đem lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân và cũng chính ý chí, nghị lực đã giúp Anh vượt qua tất cả những khó khăn gian khổ trong hành trình suốt 30 năm bôn ba để tìm được con đường đi đúng đắn, giải phóng đất nước, mang lại độc lập cho dân tộc Việt Nam.
Sự kiện lịch sử người thanh niên Nguyễn Tất Thành quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, đưa dân tộc thoát khỏi ách áp bức bót lột của Thực dân Phong kiến, đem lại tự do hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam cách đây tròn một thế kỷ. Nhưng những bài học về lòng yêu nước, thương dân, về ý chí, nghị lực kiên cường vượt khó khăn thử thách, về trách nhiệm của Thanh niên trước vận mệnh của đất nước vẫn còn nguyên giá trị đối với thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay. Trong suốt chiều dài lịch sử của cách mạng và qua hai cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ, thế hệ trẻ Việt Nam đã phát huy tinh thần ý chí và nghị lực của người thanh niên Nguyễn Tất Thành trong công cuộc đấu tranh giành độc lập, như tinh thần: “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”; tinh thần của phong trào thanh niên “Ba sẵn sàng”... và đã lập nên những chiến công kỳ tích, đóng góp vào thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc, đem lại độc lập, tự do, thống nhất đất nước, đưa cả nuớc tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, thế hệ trẻ Việt Nam đã và đang tiếp nối và phát huy truyền thống cách mạng các thế hệ Thanh niên Việt Nam, vượt qua những khó thử thách trong quá trình đổi mới đất nước, phấn đấu lao động, tích cực học tập nâng cao trình độ, mở mang kiến thức, phát huy sức sáng tạo, tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ của nhân loại, nhằm xoá đói giảm nghèo, xây dựng đất nước ngày càng phát triển và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Nhiều tấm gương sáng, những tài năng trẻ trên các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, học tập, nghiên cứu khoa học, kỹ thuật và văn hoá nghệ thuật đã xuất hiện trong thế hệ trẻ. Nhiều phong trào của Thanh niên được phát động như: phong trào “Tuổi trẻ giữ nước”; “Thanh niên lập nghiệp”; “Thanh niên tình nguyện”… Song bên cạnh đó, thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay cũng đang phải đối mặt với những khó khăn, thử thách không nhỏ, kẻ thù trong nước và quốc tế đã và đang tìm mọi cách kích động lôi kéo chống phá chế độ, gây mất ổn định chính trị. Diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi và khó l­ường. Mặt trái của nền kinh tế thị tr­ường đã và đang tác động mạnh mẽ đến thanh niên, thiếu niên hiện nay. Trong thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay, có một bộ phận không nhỏ thanh niên mất phương hướng chính trị, thiếu ý chí, nghị lực và niềm tin vào lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, một số bàng quan, vô trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội, lười lao động, trốn tránh trách nhiệm bảo vệ tổ quốc, đua đòi lối sống hưởng lạc thực dụng, xa rời những đạo đức truyền thống của dân tộc…
Thực tiễn đó đặt ra đối với thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, không ngừng rèn luyện ý chí và nghị lực, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, tinh thần yêu nước, để vượt qua những thách thức, khó khăn, biến những thách thức thành cơ hội phát triển đất nước. Nhằm đóng góp sức lực và trí tuệ của mình đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Điều đó chính là thể hiện trách nhiệm của thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay đối với đất nước.
 
Chú thích:
(1) Bài thăm một chiến sĩ cộng sản- Nguyễn Ái Quốc, Báo Ogoniok, số 39, ngày 23-12-1923.
(2) Báo Nhân dân, ngày 18-5-1965.