ĐƯỢC Ở GẦN BÁC HỒ

ĐƯỢC Ở GẦN BÁC HỒ
Cù Thị Ban
Phòng Sưu tầm-Kiểm kê-Tư liệu
 
Trong số những người nước ngoài có dịp làm việc với Chủ tịch Hồ Chí Minh các đồng chí Trung Quốc chiếm số đông nhất. Phong cách sống và đạo đức của Bác đã để lại những ấn tượng vô cùng sâu sắc và khó quên đối với các đồng chí đó.
Giáo sư Văn Trang là người có vinh dự được gặp Bác nhiều lần. Sang Việt Nam từ cuối năm 1948, Giáo sư Văn Trang cùng với 2 đảng viên Đảng cộng sản Trung Quốc khác làm nhiệm vụ chắp nối liên lạc giữa 2 Đảng. Sau đó, ông có gần 20 năm công tác ở vùng giải phóng Việt Nam và tại Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội. Ông cũng là người được trực tiếp dịch cho Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhiều chuyến sang thăm Trung Quốc của Người. Khi Bác Hồ chữa bệnh và điều dưỡng ở Tùng Hoá (tỉnh Quảng Đông), ông Văn Trang đã được phân công phục vụ Bác Hồ. Có lúc Bác đọc báo Nhân dân của Trung Quốc, gặp những từ ngữ khó đọc mà Bác không hiểu, Bác đã viết thư nhờ ông Văn Trang giải thích hộ.
Tạp chí Những vấn đề Quốc tế đã đăng một loạt bài của Giáo sư Văn Trang với nhan đề “Được ở gần Bác Hồ”, thể hiện tình cảm sâu đậm của ông với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi xin trích và giới thiệu một số đoạn hồi ký đó.
Một chiều cuối thu năm 1948, trong vùng tự do Việt Bắc, tôi được gặp Hồ Chủ tịch. Một anh giao liên dẫn tôi ra khỏi trụ sở Ban Hoa kiều Trung ương, đi khoảng 2-3 cây số, men theo một con đường mòn trong rừng vào tới một bản nhỏ chỉ lèo tèo vài ba nóc nhà. Chúng tôi dừng lại trước một ngôi nhà sàn bên đồi. Đồng chí Hoàng Quốc Việt, Trưởng ban Dân vận Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đón tôi ở cạnh chiếc thang gỗ. Bước lên gác vào nhà, tôi thấy ngay một cụ già để bộ râu dài kiểu phương đông ngồi xếp bằng trên sàn. Đó là Bác Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, một nhân vật truyền kỳ mà tôi khao khát muốn được gặp gỡ từ lâu sau khi đặt chân lên đất Việt Nam.
- Chào Bác ạ! Tôi liền bước tới chào hỏi theo kiểu cán bộ Việt Nam.
- Chào chú! Bác vẫn ngồi xếp bằng, vừa bắt tay tôi, vừa gợi ý tôi ngồi, tỏ vẻ hoà nhã và xuề xoà, khác hẳn một vị lãnh đạo nước ngoài mà tôi được yết kiến lần đầu tiên.
- Chú biết nói tiếng Việt chưa?
- Dạ, cháu đã biết nói được một ít rồi, thưa Bác.
- Thế tốt. Hoan nghênh chú sang Việt Nam công tác. Làm việc ở Việt Nam thì phải biết tiếng Việt.
Bác biết tôi đến từ tỉnh Vân Nam, liền hỏi tôi có quen biết đồng chí Nhã Tử Khanh và đồng chí Trần Phương là hai đồng chí phụ trách cơ sở bí mật của Đảng ở đó không. Tôi trả lời không quen biết. Bác nói, trước và sau năm 1940, Người có sang Vân Nam mấy lần, đều bắt liên lạc và được sự giúp đỡ khá nhiều của hai đồng chí đó. Bác hỏi tôi về tình hình Vân Nam. Tôi cố trình bày bằng tiếng Việt một số điều mà tôi biết về phong trào sinh viên học sinh kể từ sự kiện “mồng 1 tháng 12” ở Côn Minh và cuộc đấu tranh của nhân dân Vân Nam chống nạn đói, chống nội chiến, đòi dân chủ và chống sự can thiệp của Mỹ. Gặp những chỗ tôi nói không rõ bằng tiếng Việt thì Bác uốn nắn cho ngay. Khi tôi kể lại chuyện nhân dân Côn Minh rầm rộ xuống đường biểu tình, đòi Mỹ rút quân ra khỏi Trung Quốc năm 1947, Bác nói:
- Bác ở Vân Nam là trong thời kỳ chống Nhật, ở đó đã có quân Mỹ, nhưng hồi ấy họ còn là quân đồng minh.
Tiếp đó, tôi báo cáo tóm tắt về công tác Hoa kiều, chủ yếu là việc huy động anh chị em Hoa kiều tích cực tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp… Tôi hỏi Bác có chỉ thị gì cho công tác Hoa kiều.
- Vẫn phải tiếp tục cố gắng tăng cường sự đoàn kết giữa nhân dân Hoa Kiều để cùng chống bọn xâm lược Pháp. Chú sang Việt Nam chưa lâu, cần chú ý tìm hiểu tình hình và phải cố gắng học thêm tiếng Việt. Chú nói khá nhanh, nhưng nói chưa đúng lắm, còn phải cố gắng hơn nữa.
Tôi tỏ ý nhất định làm theo chỉ thị của Bác và chúc Bác mạnh khoẻ. Bác ngồi thẳng người nói:
- Bác khoẻ lắm!
Tôi đứng dậy xin phép ra về, Bác dặn tôi gửi lời thăm hỏi các đồng chí Hoa kiều, chúc vợ và con tôi mạnh khoẻ.
Khi mới gặp vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam mà tôi từng ngưỡng mộ từ lâu, trong lòng rất hồi hộp, phải tập trung tư tưởng suy nghĩ đến việc đáp ứng như thế nào và diễn đạt bằng tiếng Việt ra sao. Nhưng khi tiếp chuyện, thái độ thân mật, tự nhiên của Bác, coi tôi như người trong nhà, khiến tôi cảm thấy như đang nói chuyện với một người thầy của mình nên không cần dè dặt gì cả.
Đồng chí Hoàng Quốc Việt đưa tôi xuống gác. Về đến trụ sở thì trời đã xế chiều, tôi xúc động kể lại cho các anh chị em xung quanh nghe chuyện gặp Bác vừa rồi…
Ngày 19/5/1950 là ngày sinh nhật lần thứ 60 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính phủ Việt Nam sắp xếp cho các đại biểu Đảng, chính quyền, nhân dân đến Phủ Chủ tịch ở Việt Bắc để chúc thọ Người. Tôi hân hạnh được thay mặt cơ quan Hoa kiều đến dự.
Hồi ấy, khu căn cứ Trung ương của Việt Nam đóng ở vùng giáp giới giữa 3 tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Cạn. Từ trên cao nhìn xuống, chỉ thấy một dải đất rừng cây um tùm, nhưng dưới sự che phủ của bóng cây, có một xã hội đã thoát khỏi ách thống trị thực dân mà cơ quan đầu não đang hoạt động sôi nổi. Phần lớn các cán bộ và nhân viên làm việc ở ngay các nhà dân người Tày rải rác trong các bản làng. Trung ương Đảng của Việt Nam đã bố trí vùng này thành “An toàn khu” gọi tắt là “ATK”.
Tôi cưỡi ngựa đi hơn 20km, đến Phủ Chủ tịch ở “An toàn khu”. Lễ chúc thọ được tổ chức trong một hội trường khá rộng bằng phên nứa lợp tranh. Trên bức tường chính diện có bức chân dung vẽ mầu Chủ tịch Hồ Chí Minh, hai bên treo 2 lá cờ đỏ sao vàng và cờ búa liềm. ở đó, tôi được gặp những người lãnh đạo Đảng, chính quyền, quân đội và nhân dân như Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương Trường Chinh, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam (mặt trận thống nhất) Tôn Đức Thắng, v.v…
Hồ Chủ tịch đến. Tất cả mọi người đứng dậy hô to “Hồ Chủ tịch muôn năm!” Tiếng hô khẩu hiệu và tiếng vỗ tay vang động cả khu rừng. Hồ Chủ tịch mỉm cười ngồi xuống. Đại biểu các giới lần lượt đứng ra chúc thọ Người. Đến lượt Ban công tác Hoa kiều, tôi bước tới trước mặt Bác và đọc lời chúc thọ đã chuẩn bị sẵn, ngỏ ý anh chị em Hoa kiều ở Việt Nam cũng là một bộ phận của nhân dân Việt Nam, sẵn sàng tích cực tham gia vào cuộc kháng chiến dưới sự lãnh đạo của Bác, coi việc làm cách mạng Việt Nam cũng như làm cách mạng của Trung Quốc và xin chân thành chúc Bác sống lâu muôn tuổi. Bác chắp hai bàn tay lại, gật đầu mỉm cười và nói: Bác cũng xin chúc anh chị em Hoa kiều mạnh khoẻ, tiến bộ và đoàn kết. Cả hội trường vỗ tay nhiệt liệt.
Để giới thiệu tình hình cuộc chiến tranh giải phóng ở Trung Quốc cho anh chị em Hoa kiều và động viên họ tích cực tham gia cuộc chiến tranh chống Pháp ở Việt Nam, Ban Hoa kiều vận Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định xuất bản một tờ báo bằng Trung văn. Trưởng ban Hoa kiều vận của Việt Nam là đồng chí Lý Bích Sơn (tức Lý Ban), một người từng tham gia cuộc cách mạng Trung Quốc trong nhiều năm. Đồng chí có dự định cho tờ báo này lấy tên “Báo Hoa Việt” hoặc “Báo Đoàn kết”. Sau khi xin ý kiến trên, Hồ Chủ tịch quyết định đặt tên báo là “Hoa Việt thân thiện”.
Có lần, Hồ Chủ tịch đến trường Đảng thăm hỏi các học viên. Các anh chị em trường Đảng và đội viên văn công vây quanh Bác. Bác được biết anh chị em đội viên của đội văn công Hoa Việt (thuộc cơ quan Ban Hoa Kiều vận, do một số thanh niên Hoa kiều và thanh niên Việt Nam tổ chức thành) cũng có mặt, Bác hỏi chuyện chị Tinh và một chị đứng cạnh Bác về quê quán, thời gian sang Việt Nam, đã biết nói tiếng việt chưa. Bác lại hỏi một cô đội viên Việt Nam có biết nói tiếng Trung không. Bác khuyến khích các chị em Trung Quốc phải cố gắng học tiếng Việt, các anh chị em Việt Nam cũng phải cố gắng học tiếng Trung Quốc. Bác nói:
- Phải học tiếng của nhau thì mới có thể hiểu biết lẫn nhau và đoàn kết chặt chẽ.
Bác Hồ rất quan tâm đến đời sống của cán bộ và nhân dân. Tôi vừa vào tới vùng tự do Việt Nam đã được nghe nhiều cán bộ nói vậy. Trước năm 1949 vùng tự do Việt Bắc còn nằm trong vòng vây phong toả của địch, đời sống hết sức khó khăn. Các cán bộ Hoa kiều vận chúng tôi cũng vậy. Con tôi đã hơn 1 tuổi toàn mặc áo khâu lại từ quần áo cũ. Một hôm đồng chí Lý Ban đưa cho tôi một mảnh lụa màu, vàng nhạt dài hơn 1m của Bác Hồ gửi cho con tôi. Tấm vải luạ Nam Định này do nhân dân miền xuôi biếu Bác, nhưng Bác không dùng mà chia ra cho các cháu bé con của một số cán bộ. Chúng tôi đã nhận mảnh lụa khâu thành chiếc áo mới đầu tiên cho con...
Mùa đông năm 1950, tôi được điều động sang Đoàn cố vấn chính trị Trung Quốc tại Việt Nam, nhiệm vụ chính là làm phiên dịch cho đồng chí trưởng đoàn cố vấn La Quý Ba.
Nhà ở cũng là phòng làm việc của Bác Hồ ở sườn dốc, cách phòng họp hơn 10 mét. Lần đầu tiên tôi theo đồng chí La Quý Ba đến họp ở địa điểm này, Bác liền dẫn chúng tôi đến thăm quan. Đó là một ngôi nhà sàn tre, mái tranh. ở dưới rào có một cái bàn gỗ nhỏ để giữa cột nhà, trên đặt chiếc máy đánh chữ cỡ nhỏ và mấy loại sách báo. Sau khi leo lên bậc thang gỗ, vào trong buồng rộng khoảng 6-7m2, trên chiếc chiếu có chăn màn gấp nhỏ, gọn gàng. Bác dùng tiếng Trung Quốc mời khách ngồi trên sàn nhà rồi dí dỏm nói:
- Đây là dinh Chủ tịch của Bác đấy.
Trên khoảng đất trống bên cạnh nhà, Bác cùng anh em phục vụ trồng được mấy luống rau. ở đằng trước và sau nhà, có trồng một số cây chuối, ngô và sắn. Khi họp ở chỗ Bác, chúng tôi nhiều lần được ăn rau muống do Bác trồng.
Mỗi khi chủ trì cuộc họp của Bộ Chính trị Trung ương, Bác đều ngồi ở một đầu chiếc bàn dài (có chiếc ghế gỗ riêng), đồng chí La Quý Ba ngồi bên tay phải của Bác, Tổng bí thư Trường Chinh ngồi ở bên tay trái của Bác, còn các uỷ viên khác và những cán bộ được mời thêm thì ngồi chung quanh bàn. Lúc nào có tiếng máy bay tới gần thì anh em cảnh vệ gõ kẻng làm hiệu báo động. Tất cả mọi người ra hầm trú ẩn, máy bay đi thì lại họp tiếp. Đến giờ ăn trưa, bàn họp lại được thu xếp thành bàn ăn. Bữa cơm nấu theo tiêu chuẩn cao nhất hồi bấy giờ ở Việt Bắc, thường là 2 món thịt và 2 đĩa rau với một bát canh, thỉnh thoảng được uống một ít rượu vang. Ăn xong, mọi người nghỉ khoảng 2 tiếng đồng hồ. Bác về nhà nghỉ, các đồng chí khác nghỉ trên giường tre ở buồng họp. Đồng chí La Quý Ba và tôi được sắp xếp ở buồng trong. Thường là đang lúc tôi buồn ngủ, thì đã nghe vài ba tiếng vỗ tay, đó là Bác Hồ đã đến trước cửa gọi mọi người dậy vì giờ họp buổi chiều sắp đến. Bác là người đến rất đúng thời gian.
Giúp việc cho Bác là một nhóm gồm có 8 người, Bác đặt tên cho anh em là “Trường”, “Kỳ”, “Kháng”, “Chiến”, “Nhất”, “Định”, “Thắng”, “Lợi”. Sau đó, có mấy anh em được lần lượt điều động đi làm công tác khác, chỉ còn lại 3, 4 người… Có việc gì cần gọi anh em giúp việc, Bác không gọi tên hoặc chức vụ, mà chỉ kêu một tiếng Cúc Cu ! như chim rừng, người thường trực đến ngay lập tức. Đó là một tín hiệu liên lạc trong hành quân thời kỳ đầu xây dựng căn cứ cách mạng ở Việt Bắc. Lấy tiếng chim kêu làm hiệu thì dù địch ở gần cũng khó phát hiện được.
Trước đó, một trong những chỗ ở của Bác mà tôi đã từng theo đồng chí La Quý Ba đến chỉ là một chiếc lều tre, rộng 3-4m2, đặt ở chỗ lõm trên vách núi cách mặt đất độ 3m. Bác rất hài lòng với “Dinh thự trong rừng” đó. Cũng ở nơi đây Bác từng thết đãi các đồng chí lãnh đạo Đoàn cố vấn Chính trị và Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc. Bác còn mời đồng chí La Quý Ba cùng 6 đồng chí nữ trong Đoàn đến chơi. Các chị kể lại rằng, Bác đã đưa các chị đi thăm nhà ở của Bác và vườn rau. Dưới những cây cọ rừng to, Bác mời khách ngồi quanh một chiếc bàn gỗ đóng bằng cọc trên mặt đất, cùng ăn sắn do Người trồng và con cua nhỏ do Người bắt được trong khe núi, cùng ca hát liên hoan với anh em giúp việc ở bên cạnh.
Sau khi đến thăm mấy nơi ở của Bác trong rừng Việt Bắc, tôi thấy Bác không chỉ sống quen trong hoàn cảnh núi rừng gian khổ và giản dị mà còn chứa đầy tình cảm nồng thắm đối với non sông Việt Bắc. Bài thơ chữ Hán của Bác nhan đề “Vô đề”, nguyên văn như sau:
Sơn kính khách lai hoa mãn địa
Tùng lâm quân đáo điểu xung thiên
Quân cơ quốc kế thương đàm liễu,
Huề dũng giai đồng quán thái viên
Bài thơ được nhà thơ Xuân Thuỷ dịch ra tiếng Việt như sau:
Đường non khách tới hoa đầy
Rừng sâu quân đến, tung bay chim ngàn
Việc quân, việc nước đã bàn
Xách bương, dắt trẻ ra vườn tưới rau.
Suốt 4, 5 năm làm việc trong Đoàn cố vấn Trung Quốc tại Việt Nam, tôi luôn luôn cảm nhận được tình cảm của Bác Hồ với anh em chúng tôi.
Năm 1952, Đoàn cố vấn Chính trị và Đoàn cố vấn quân sự hợp lại thành một, dọn sang địa điểm mới. Một hôm, Bác Hồ đột nhiên đến thăm nơi ở của Đoàn. Đồng chí La Quý Ba dẫn Bác xem xét tình hình. Nhà nằm dưới bóng cây to, sân bóng rổ kề sát khu rừng, ở sâu trong núi. Đồng chí La Quý Ba nói với Bác rằng, các đồng chí Việt Nam đã sắp xếp ổn thoả cả rồi, mong Bác cứ yên tâm. Bác kiểm tra mái nhà có lộ không, rồi chỉ thị cho cán bộ Việt Nam đi nguỵ trang thêm một vài chỗ, nhắc nhở anh em Trung Quốc khi phơi chăn đệm, quần áo ở sân bóng rổ thì phải cẩn thận đừng để lộ mục tiêu. Bác nói với đồng chí La Quý Ba bằng tiếng Trung Quốc:
- Phải đặc biệt chú ý phòng không, nhắc các đồng chí đừng có chủ quan, có báo động thì phải ra ngay.
Bác Hồ rất hay đến nơi ở của Đoàn cố vấn. Có lần, Bộ Chính trị trung ương Đảng Việt Nam họp thường lệ, nhưng đồng chí La Quý Ba bị đau lưng không dậy được, phải xin phép Bác không đến dự. Bác quyết định ngay: Cuộc họp này sẽ họp tại nơi ở của Đoàn cố vấn. Sáng sớm hôm ấy, tôi ra đón Bác, vừa đi khỏi nhà ở đã thấy Bác đang đi tới theo đường mòn trong rừng.
- Chào Bác ạ! Tôi bước tới chào Bác.
- Chào chú! Bác vừa nói vừa cởi bỏ cái khăn “ngụy trang”.
Các uỷ viên Bộ Chính trị cũng xuất hiện hầu như cùng lúc đó. Tôi chào từng đồng chí và mời vào khu ở của Đoàn.
Bác bước vào phòng họp (cũng là phòng tiếp khách), đồng chí La Quý Ba vừa chào hỏi Bác, vừa cố sức đứng dậy từ chiếc ghế nằm bằng gỗ. Thấy vậy, Bác vội đến ngăn, bảo đồng chí cứ nằm yên, rồi nói dí dỏm: - Bây giờ anh là “ngoạ long tiên sinh” thật rồi.
Hễ đến mồng 1 tháng 7, Bác đều đến thăm Đoàn cố vấn để cùng chúc mừng ngày thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Bác thường nói: - Bác cũng là đảng viên của Đảng Cộng sản Trung Quốc mà. Trong thời kỳ kháng chiến của Trung Quốc, Bác từng làm bí thư chi bộ của Văn phòng Bát lộ quân đóng ở Hành Dương đấy!
Ngày 2/9/1953 nhân dịp Kỷ niệm 8 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Bác với Chủ tịch Quốc hội Tôn Đức Thắng, Tổng Bí thư Trường Chinh, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đến nơi ở của Đoàn cố vấn để trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh – huân chương cao nhất của nước Việt Nam cho Trưởng đoàn cố vấn chính trị La Quý Ba và Trưởng đoàn cố vấn quân sự Vi Quốc Thanh. Chính phủ nước Việt Nam và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam cũng trao tặng những loại huân chương các cấp cho một số đồng chí khác. ấn tượng sâu sắc nhất đã để lại cho tôi là trong lời phát biểu, Bác đã đặc biệt ngợi khen tinh thần quốc tế vô sản của các đồng chí trong Đoàn cố vấn Trung Quốc; chân thành cám ơn Đảng Cộng sản Trung Quốc và Mao Chủ tịch đã viện trợ Việt Nam một cách khẳng khái vô tư, Bác nhấn mạnh, Đảng Lao động Việt Nam tuyệt đối tín nhiệm Đảng Cộng sản Trung Quốc, cũng tuyệt đối tín nhiệm các đồng chí cố vấn Trung Quốc. Bác còn căn dặn các đồng chí Việt Nam phải cố gắng học hỏi những kinh nghiệm quý báu của Trung Quốc để đẩy mạnh cuộc kháng chiến cho đến thắng lợi cuối cùng.
Bác rất thông cảm các anh em chúng tôi làm việc trong hoàn cảnh gian khổ ở nước ngoài. Ngày tết hay ngày lễ, Bác đều đến Đoàn hỏi thăm. Thường ngày, Bác hết sức quan tâm đến các đồng chí Trung Quốc làm việc tại Việt Nam. Mỗi lần gặp đồng chí La Quý Ba, câu đầu của Bác là hỏi các đồng chí trong đoàn có được mạnh khoẻ không, trong sinh hoạt có vấn đề gì không và thường hay chia sẻ một số kinh nghiệm sống ở Việt Bắc của Bác. Đối với anh chị em chúng tôi vốn làm việc ở vùng tự do Việt Bắc khi đoàn cố vấn chưa sang Việt Nam, Bác luôn gần gũi và thân thiết, Bác gọi các anh em cán bộ và nhân viên Trung Quốc mới sang Việt Nam bằng “đồng chí”, nhưng gọi chúng tôi bằng “chú” như đối với cán bộ Việt Nam. Hễ phát hiện chúng tôi có khuyết điểm gì là Bác chỉ bảo luôn. Có mấy lần Bác sang đoàn cố vấn nói chuyện với đồng chí Trưởng đoàn Cố vấn, khi về có ghé qua tổ phiên dịch chúng tôi. Do buổi tối hôm trước mưa to, mái nhà bị dột, những sách báo, giấy tờ và đồ đạc vất ngổn ngang, chưa kịp thu dọn lại. Bác vừa bước vào nhà thì phê bình ngay: - Sao các chú lung tung thế này, thanh niên thì phải ngăn nắp chứ! Tôi ngượng ngùng tiếp thu lời phê bình của Bác.
Khi tôi phiên dịch, thấy tôi dùng sai chữ thì Bác nhắc nhở ngay, phát âm sai thì Bác uốn nắn cho đúng mới thôi. Một hôm, khi ăn cơm, Bác kể lại một câu chuyện: Trong thời kỳ đại cách mạng Trung Quốc, Bác làm việc ở chỗ ông Bô-rô-đin, cố vấn Liên Xô của ông Tôn Trung Sơn tại Quảng Châu. Trong một buổi tiệc, có những sĩ quan cao cấp của Quốc dân Đảng đến dự. Anh phiên dịch tiếng Nga làm việc rất hăng, dịch cả từng câu từng chữ. Ngay cả khi mấy người Liên Xô đang thì thầm, anh phiên dịch này cũng chuẩn bị dịch luôn. Bác vội kéo mạnh viền áo anh ta, mới chặn được anh ta dịch câu này ra. Kể xong chuyện, Bác ngoảnh lại nói với tôi: - Này, chú làm phiên dịch thì phải chú ý đấy…
Hiệp định Giơnevơ được ký kết vào tháng 7 năm 1954, cuộc chiến tranh kéo dài 8 năm đã chấm dứt, miền Bắc Việt Nam được giải phóng hoàn toàn. Ngày 1/1/1955 Chính phủ Việt Nam trở về Thủ đô Hà Nội. Chủ tịch Hồ Chí Minh được nhân dân Hà Nội chào đón nhiệt liệt. Bác Hồ chính thức về ở Phủ Chủ tịch - một toà nhà lớn ở Hà Nội lúc bấy giờ, nhưng Người đã khước từ và chọn một ngôi nhà nhỏ gần bờ ao để ở và làm việc. Chủ tịch Hồ Chí Minh sống và làm việc tại ngôi nhà này từ tháng 12 năm 1954 đến tháng 5 năm 1958 (vì vậy ngôi nhà được gọi là nhà 54). Đầu năm 1958, ngôi nhà Sàn được khởi công xây dựng. Ngôi nhà Sàn là nơi gắn bó với cuộc sống của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong suốt 11 năm cuối đời của Người (1958 - 1969).
Đầu năm 1955, Bác được biết vợ tôi và con thứ hai vừa chào đời 2 tháng đã từ Côn Minh về đến Hà Nội, liền bảo chúng tôi bế cháu cho Bác xem. Đại sứ La Quý Ba đưa chúng tôi đến chỗ Bác và cùng ăn cơm tối. Theo yêu cầu của chúng tôi, Bác đặt tên cho cháu là “Việt Dũng”. Năm 1959, trước khi tôi được điều động về nước, Bác lại gọi tôi đến cùng ăn cơm tối, còn tặng tôi một tấm ảnh, trên có viết một dòng chữ bằng trung văn “chúc chú tiến vọt, ngày 3.6.59. Bác Hồ tặng”. Buổi ấy, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng có mặt và cũng biếu tôi một tấm ảnh có ký tên.
(Còn nữa)
 
 
 
Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh với cố vấn Trung quốc tại chiến khu Việt Bắc (1950)