Chủ tịch Hồ Chí Minh và triết lý "tu thân" Nho gia

Ths Vũ Kim Yến
Phòng ST-KK-TL
Tiếp thu một học thuyết từ bên ngoài để làm giàu vốn tri thức, văn hoá của dân tộc là một sự thật khách quan qua các triều đại của dân tộc Việt Nam. Trong ý thức hệ phong kiến mà người Hán đưa vào nước ta từ thời kỳ Bắc thuộc, Nho giáo tồn tại lâu bền nhất và có ảnh hưởng sâu sắc nhất trong suốt thời kỳ phong kiến. Do có thời gian tồn tại lâu dài và do được các triều đại phong kiến Việt Nam tiếp thu và sử dụng có mục đích, cho nên Nho giáo có ảnh hưởng sâu rộng ở nhiều lĩnh vực. Đặc biệt, tư tưởng đạo đức Nho giáo đã trở thành cơ sở cho đạo đức thời phong kiến Việt Nam và vẫn còn ảnh hưởng cho đến ngày nay.
Sự ảnh hưởng của Nho giáo ở mỗi thời đại, đối với mỗi tầng lớp xã hội của dân tộc Việt Nam là khác nhau. Nhưng phải thấy rằng không thời nào không có những Nho sĩ Việt Nam chịu những ảnh hưởng tích cực của Nho giáo mà “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, danh nhân văn hoá lớn của thế giới, được sinh ra trong gia đình Nho học xứ Nghệ, Người mà trong phong cách, đạo đức có nhiều nét của một vị chân Nho, Người đã sử dụng sáng tạo một số nhân tố hợp lý trong tư tưởng đạo đức Nho giáo, tinh hoa của Phật giáo và của tư tưởng Lão Trang, lòng nhân ái của Giê-su, tinh hoa của tư tưởng đạo đức phương Tây và tư tưởng Mác-Lênin kết hợp nhuần nhuyễn với truyền thống đạo đức tốt đẹp của văn hóa dân tộc để xây dựng nên tư tưởng đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh - di sản vô giá cho chúng ta hôm nay và các thế hệ mai sau học tập và làm theo.
1. Khổng Tử ([1]) là người sáng lập học phái Nho Gia (Nho giáo) vào những năm cuối thời Xuân Thu (Trung Quốc). Sau khi ông mất, tư tưởng của ông đã được các thế hệ học trò kế thừa. Đến thế kỷ II TCN, Nho giáo mới được giai cấp phong kiến Trung Quốc sử dụng vào việc trị quốc. Nho giáo về sau đã khác nhiều so với lúc mới xuất hiện, nhưng nó vẫn có điểm chung - đó là một học thuyết chính trị, đạo đức của giai cấp phong kiến Trung Quốc, chủ trương dùng "lễ trị", "đức trị" để quản lý xã hội. Nét đặc sắc của Nho giáo là chú trọng dạy đạo làm người, hướng vào rèn luyện đạo đức con người, đề cao vấn đề tu dưỡng đạo đức cá nhân – tu thân. Theo Nho giáo, tu thân đóng một vai trò đặc biệt quan trọng, bởi “Đã tu tập lấy được mình, thì mới sắp đặt nhà cửa cho chỉnh tề. Nhà cửa đã sắp đặt cho chỉnh tề, thì nước mới sửa trị được. Nước đã sửa trị, thiên hạ mới bình an”([2]). Ở đây Nho giáo đã nhận thức được một thực tế là những người cầm quyền mà mất đạo đức thì không thể cai trị được nhân dân. Theo Nho giáo, đạo đức người cầm quyền có ảnh hưởng lớn đến sự hưng vong của một triều đại. Vì vậy, muốn có năng lực trị quốc, con người cần phải trải qua một quá trình học tập, tu dưỡng để có đạo đức cao cả, làm tấm gương cho người dưới.
Theo Nho giáo, tự kiểm điểm bản thân là công việc bắt buộc đối với tất cả mọi người, không chừa một ai. Trên từ bậc thiên tử, dưới đến thứ dân ai ai cũng phải tự kiểm điểm mà đổi mới, tiến bộ. Kiểm điểm bản thân giúp cho mọi người gạt bỏ được thói hư, tật xấu, xây dựng nhân cách mới tốt đẹp hơn. Khổng Tử cũng cho rằng, nhà cầm quyền muốn được dân theo thì tự mình phải có đạo đức và phải gương mẫu: “Bản thân không làm theo đạo lý, chẳng giáo hoá nổi vợ con. Sai khiến người không đúng đạo lý, bảo vợ con cũng chẳng nổi”([3]). Do đó, “người trên chuộng lễ thì dân dễ sai khiến” ([4]).
Nho giáo cũng chỉ ra rằng, học tập chính là phương pháp để tu thân, rèn luyện phẩm chất đạo đức. Các đức tính nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, trực, dũng phải học tập rèn luyện mới có. Người quân tử làm điều tốt cho người khác, không gây ác cho người khác nên phải học để nhận thức đúng, tránh sai lầm, không bị che lấp.
Như vậy có thể nói, triết lý tu thân của Nho gia có khá nhiều ý nghĩa thiết thực đối với bản thân mỗi người và xã hội. Với việc đề cao tu thân, coi đây là cái gốc trong rèn luyện nhân cách, Nho giáo đã tạo nên một lớp người sống có đạo đức, tạo ra cho kẻ sĩ một tinh thần trách nhiệm cao cả với xã hội, là yếu tố tạo nên truyền thống hiếu học, truyền thống khí tiết của kẻ sĩ. Dù các triều đình phong kiến Việt Nam đã xem xét và lựa chọn, kế thừa và cải tạo lý luận của Nho giáo cho phù hợp với cuộc sống của mình và loại bỏ những gì không phù hợp với mình, nhưng những nguyên lý cơ bản của nó thể hiện nên nội dung tư tưởng của chế độ phong kiến phương Đông vẫn được bảo lưu và thực hiện. Các nguyên lý như “mệnh trời”, “chính danh”, “tam cương, ngũ thường”, “trung, hiếu, lễ, nghĩa”, v.v.. của Nho giáo Trung Quốc đã trở thành nền tảng tư tưởng cho các triều đình Việt Nam tổ chức nên hệ thống cai trị, quy định nên các sinh hoạt chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hoá, phong tục tập quán, v.v.. mang sắc thái Việt Nam. Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có nhiều vị vua, nhiều nhà chính trị, quân sự, ngoại giao lỗi lạc đã vận dụng đạo đức Nho giáo vào công cuộc chấn hưng đất nước theo hướng tích cực như: Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm,… Không thể không nhắc tới một Trần Quốc Tuấn với bài Hịch Tướng sĩ bất hủ, trong đó ông đã đặt lợi ích của mỗi cá nhân nằm trong lợi ích của quốc gia, của triều đại và của gia đình, đặt mỗi người phải suy ngẫm về sự nhục – vinh, khơi dậy ở mọi người lòng căm thù giặc, ý chí quyết tâm chống giặc ngoại xâm: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác kia gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng”([5]). Tư tưởng này còn được tiếp nối trong bài hịch đánh quân Thanh của Nguyễn Huệ: “Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho chúng chích luân bất phản. Đánh cho chúng phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”([6]). Nho giáo không những đã có công trong việc dựng nước Việt Nam về mặt chế độ, mà còn cung cấp kiến thức cho các nhà Nho yêu nước đấu tranh cho độc lập dân tộc, cho quyền tự chủ của quốc gia,... Trong đó, đặc biệt phải kể đến là từ ngọn cờ chống Pháp “chẳng nghe Thiên tử chiếu” ở Nam Kỳ sau Hòa ước 1862 tới các cuộc vận động Minh tân, Duy tân, Đông du, Đông kinh nghĩa thục đầu thế kỷ XX, các sĩ phu yêu nước tiêu biểu như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp... đã quy tụ được một lực lượng lớn nhân dân để tiến hành các hoạt động yêu nước và tiến bộ.
Như vậy là, thông qua việc truyền bá tư tưởng Nho giáo của giới nho sĩ Việt Nam và các chính sách của triều đình, Nho giáo nói chung và đạo đức Nho giáo nói riêng đã thấm sâu vào tâm tư, tình cảm và vào suy nghĩ, hành động của mọi tầng lớp người Việt Nam. Đạo đức Nho giáo đã trở thành một nhân tố của đạo đức truyền thống Việt Nam với những mặt tích cực là triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành động giúp đời, ước vọng về một xã hội bình trị, hòa mục, triết lý nhân sinh; tu thân dưỡng tính; đề cao văn hóa lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học.
2. Năm 1923, khi trả lời phỏng vấn nhà báo Liên Xô Oxíp Manđenxtam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tự giới thiệu: “Tôi sinh ra trong một gia đình nhà nho An Nam... Thanh niên trong những gia đình ấy thường học Khổng giáo”([7]). Tại Đại hội Quốc tế cộng sản năm 1935, Người lại ghi trong lý lịch: “Thành phần gia đình nhà nho”. Thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất thân trong một gia đình nhà Nho nền nếp tại xứ Nghệ, vốn là vùng đất nổi tiếng Nho học. Ông ngoại của Người là một nhà nho, tuy chỉ đỗ “nhị trường” nhưng dân làng vẫn yêu mến gọi là cụ Tú Đường. Cụ mở lớp dạy chữ Hán ngay tại nhà cho một số con em trong làng. Cha của Người là ông Nguyễn Sinh Sắc đã đỗ phó bảng trong kỳ thi hội năm 1901 nhưng nhiều năm liền trì hoãn việc vào kinh đô nhậm chức. Ông sống thanh đạm bằng nghề dạy học, nghiên cứu tân thư, kết bạn tâm giao với các sĩ phu yêu nước và đặc biệt chú tâm dạy dỗ con cái. Thời niên thiếu tại quê nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh được cha gửi đến học chữ Hán (trong đó có Nho giáo) với các thầy giáo giàu lòng yêu nước. Năm 1906, khi cha ra nhận chức quan ở Huế, Hồ Chí Minh lại được theo học trường Tiểu học Pháp - Việt Đông Ba với các môn học gồm Pháp văn (chủ yếu), Quốc văn, Hán văn, Toán, Sử, Địa, Khoa học. Những điều kiện khách quan trên đây cho phép nói đến ảnh hưởng Nho giáo đối với Người như là một điều tất yếu đầu tiên. Sau này, trình độ Hán ngữ của Người đã được bổ sung và nâng cao khi Người quen biết một số nhà hoạt động cách mạng Trung Quốc ở Paris (1917-1923) như Chu Ân Lai, Lý Phú Xuân... (trong đó có cả nhà thơ Trung Quốc Tiêu Tam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là người giới thiệu vào Đảng Cộng sản Pháp) cũng như trong những lần Người hoạt động và bị bọn Quốc Dân đảng giam giữ ở Trung Quốc. Qua những bài thơ chữ Hán của Người, mà tập thơ Nhật ký trong tù là đỉnh cao nhất, đủ thấy trình độ Hán học cũng như thi tài của Người uyên thâm, xuất sắc đến mức nào. Về tập thơ Nhật ký trong tù, Quách Mạc Nhược, nhà học giả nổi tiếng của Trung Quốc nhận xét: có một số bài thơ rất hay, nếu xếp chung vào tập thơ Đường, Tống e rằng cũng không dễ gì nhận ra”([8]).
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận xét: Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học. Từ những giá trị tốt đẹp cũng như hạn chế của Nho giáo, Hồ Chí Minh rút ra bài học: “Những người An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình, về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng Tử và về mặt cách mạng thì cần đọc các tác phẩm của Lênin”([9]). Là người tiếp thu, vận dụng Nho giáo một cách nhuần nhuyễn nhất, thành công nhất, song Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ tiếp thu Nho giáo nguyên thuỷ (tức Khổng Mạnh) mà ít nói đến Hán Nho, Tống Nho, và trong 4 vế tư tưởng chính trị – đạo đức của Khổng Mạnh là “Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ”, Người chỉ nhấn mạnh vế thứ nhất là Tu thân. Những Đức, Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín theo quan điểm tu thân của Nho giáo đã được Hồ Chí Minh tiếp thu và cải biến thành Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm. Hồ Chí Minh đã giải nghĩa các khái niệm mới này trong cuốn Sửa đổi lề lối làm việc, một cuốn sách dạy cán bộ đạo đức cách mạng và phương pháp khoa học như sau:
Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân. Vì thế mà sẳn sàng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ, vì thế mà không hám giàu sang, không e cực khổ, không sợ oai quyền.
Những người đã không ham, không sợ gì thì việc gì phải làm họ đều làm được.
Nghĩa là ngay thẳng không có tư tâm, không làm việc bậy, không có gì phải giấu Đảng. Ngoài lợi ích của Đảng, không có lợi ích riêng phải toan. Lúc Đảng giao cho việc, thì bất kỳ to nhỏ đều ra sức làm cẩn thận. Thấy việc phải thì làm, thấy việc phải nói thì nói, không sợ người ta phê bình, mà phê bình người khác cũng luôn luôn đứng đắn.
Trí vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch, sáng suốt. Dễ hiểu lý luận. Dễ tìm phương hướng. Biết xem người, biết xem việc. Vì vậy, mà biết việc làm có lợi, tránh việc có hại cho Đảng mà cân nhắc người tốt, đề phòng người gian.
Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải làm thì có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Có gan chống lại những sự vinh hoa phú quý không chính đáng. Nếu cần thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát.
Liêm là không tham địa vị, không ham tiền tài, không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ.
Đó là đạo đức cách mạng. Đạo đức đó là không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đàng của dân tộc, của loài người”([10]).
Với tinh thần nói trên, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng rất nhiều câu chữ của Nho giáo, nhiều kinh nghiệm giáo dục và tu dưỡng của Nho giáo, nhiều biện pháp động viên tinh thần và ý chí của Nho giáo để cổ vũ nhân dân đứng lên chiến đấu giành lại độc lập tự do với một khí phách kiên cường, tinh thần mưu trí và sáng tạo. Năm 1946, trước khi sang thăm chính thức nước Pháp, trong bối cảnh nhân dân cả nước lo sợ bọn thực dân hiếu chiến tráo trở, lo sợ tình hình trong nước bất ổn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ định cụ Huỳnh Thúc Kháng (vốn là một vị túc nho vừa được Người mời ra gánh vác việc nước) thay mặt Người giải quyết mọi công việc. Cụ Huỳnh Thúc Kháng tiễn Chủ tịch Hồ Chí Minh ra tận sân bay, lúc sắp chia tay còn băn khoăn hỏi Người: “Gặp biến cố lớn thì làm thế nào?”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói ngắn gọn: “Dĩ bất biến ứng vạn biến” (Lấy sự không thay đổi để đối phó với mọi cái thay đổi). Lời dặn ứng khẩu của Chủ tịch Hồ Chí Minh với vị túc nho Huỳnh Thúc Kháng chứng tỏ mức độ nghiên cứu triết học phương Đông uyên thâm của Người. Nó nhấn mạnh sự cần thiết phải giữ vững được cái tư thế tỉnh táo giữa muôn cơn nguy hiểm của người cách mạng. Có như vậy chúng ta mới làm chủ tình thế trong mọi trường hợp, “trong cái khó ló cái khôn”. Cũng trong những ngày gian nan trắc trở của cách mạng, khi nữ sĩ Hằng Phương gửi tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh gói cam, Người làm bài thơ cảm tạ như sau: “Cảm ơn bà biếu gói cam - Nhận thì không đúng, từ làm sao đây - Ăn quả nhớ kẻ trồng cay - Phải chăng khổ tận đến ngày cam lai”. Khổ tận cam lai chính là mệnh đề phát sinh từ nguyên lý bĩ cực thái lai của Kinh Dịch với ý nói vận tới chỗ cùng cực thì vận thông đến, khổ hết lại sướng, rủi hết lại đến may.
Tiếp thu tư tưởng của Nho gia về đạo đức của người nắm quyền - người cán bộ, Hồ Chí Minh đòi hỏi người cán bộ phải vừa có tài, vừa có đức, có bản lĩnh đạo đức, trong đó đạo đức là cái gốc của mọi việc. Trong cuốn “Cần, Kiệm, Liêm, Chính” với bút danh Quyết Thắng viết tháng 6-1949, Người viết: “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đất có bốn phương: Đông-Tây-Nam-Bắc; Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính; Thiếu một mùa thì không thành trời; Thiếu một phương thì không thành đất; Thiếu một đức thì không thành người”([11]). Yêu cầu rèn luyện đạo đức của người cán bộ, đảng viên là tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, nêu cao tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Cán bộ, đảng viên trung thành với lý tưởng, với đất nước phải được thể hiện trong công việc hàng ngày, đó là: hướng tới phục vụ nhân dân, vì lợi ích của nhân dân. Bảo vệ thành quả chính đáng của cách mạng cũng có nghĩa là phải bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động. Đó là đạo đức chân chính của người cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp. Phát triển mặt đạo đức của người cán bộ còn là phát triển "cái thiện trong con người", phát triển lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, tinh tế trong ứng xử, giản dị trong lối sống. Và cũng từ rất sớm, rất kiên quyết, Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề đấu tranh để ngăn ngừa các tệ quan liêu, chuyên quyền, tham ô, lãng phí, đặc quyền đặc lợi trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người coi đó là thứ giặc rất nguy hiểm, chà đạp quyền dân chủ, làm hư hỏng cán bộ, phá vỡ kỷ cương, kỷ luật, có thể làm ruỗng nát chế độ dân chủ từ bên trong.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện sự quan tâm tới vấn đề đạo đức bằng văn từ, quan trọng hơn là bằng tự làm gương một cách tự giác, kiên trì, có hệ thống. Khi chuẩn bị viết tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng: Cán bộ đảng viên là cái gương để quần chúng soi vào, cho nên dân ta mới có câu nói “đảng viên đi trước, làng nước theo sau!”. Muốn làm được điều đó thì cán bộ đảng viên phải tu dưỡng rèn luyện để khổ mấy cũng chịu được, nhưng sướng mấy cũng phải chịu được, có như thế mới giữ vững được đạo đức cách mạng. Người còn nói tiếp: Bác rất lo khi đã có chính quyền rồi, có điều kiện kinh tế khác thời kháng chiến rồi cán bộ dễ bị sa ngã, dễ quan liêu, tham nhũng, hư hỏng, đó là những cán bộ đảng viên không chịu được “sướng” đấy. Vì vậy, kinh tế càng phát triển, đời sống càng được nâng cao thì càng phải chống chủ nghĩa cá nhân, càng phải rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng. Càng phải tôn trọng và gắn bó máu thịt với nhân dân, phải giữ gìn và xứng đáng là những tấm gương để quần chúng nhân dân soi vào. Để có được những tấm gương sáng cho quần chúng học tập và noi theo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động và qua đó, tạo ra cả một phong trào thi đua sôi nổi, sâu rộng trong toàn xã hội - phong trào “Người tốt, việc tốt”. Việc nêu gương “Người tốt, việc tốt” đã có tác dụng rất lớn trong giáo dục đạo đức. Qua đó, mỗi người đều tự nhận thấy mình có thể noi theo gương tốt và làm việc tốt để trở thành người có ích cho xã hội. Ai cũng có thể nêu gương về đạo đức cho người khác học tập. Và, ai cũng cần học tập những gương “Người tốt, việc tốt”. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”([12])
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” và chính cuộc đời Người, nhất quán từ nếp nghĩ, lời nói, hành động, việc làm đều đã góp phần ánh sáng cho tấm gương sáng trong, rực rỡ nhất - tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Người nói: “Thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, suốt đời, Người chưa hề biết khuất phục hay lùi bước trước kẻ thù. Người nói: “dân chủ với nhân dân, chuyên chính với kẻ thù của nhân dân”, suốt đời, Người chống bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Người nói: “Phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, suốt đời, Người không nhận một cái gì cho riêng mình, Người không màng danh lợi, không ham bia đá, tượng đồng. Người nói: “Phải sống giản dị và tiết kiệm”, cuộc đời của Người, từ lúc làm một thợ ảnh bình thường ở ngõ hẻm Compoint nước Pháp, “một viên gạch hồng Bác chống lại cả một mùa băng giá” đến khi làm Chủ tịch nước sống giữa thủ đô Hà Nội, vẫn là một cuộc đời thanh bạch, giản dị, tao nhã từ câu nói, tác phong đến vật dùng tư trang hàng ngày, từ ǎn uống đến sở thích sống hoà mình với nhân dân, từ ngôi nhà sàn Bác ở suốt 15 năm cuối của cuộc đời Người, đơn sơ, nho nhỏ, chỉ có những đồ dùng rất gần gũi với Bác: Một chiếc giường đơn trải chiếu cói, cái tủ nhỏ, bộ bàn ghế, trên bàn để đèn, lọ hoa, chiếc máy thu thanh, cái quạt nan, mấy quyển sách cần thiết hàng ngày...
Cũng toát lên từ tấm gương đạo đức của Bác là tinh thần học tập, phấn đấu kiên trì, không mệt mỏi, quyết tâm rèn luyện, tu dưỡng không ngừng nghỉ. Khi quyết định ra đi tìm đường cứu nước, năm 1911, người thanh niên 21 tuổi Nguyễn Tất Thành đã bắt đầu một cuộc sống vất vả, khó khăn trên một hành trình dài 30 năm, đi nhiều nơi, chiêm nghiệm nhiều, lao động để sống, để học tập, để hoạt động cách mạng. Người đã vượt lên hoàn cảnh, khai thác tối đa và hiệu quả quỹ thời gian để kiên trì học tập, trau dồi kiến thức. Trở thành Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh vẫn tranh thủ mọi lúc, mọi nơi để học. Năm 1961, nói chuyện với các cán bộ đảng viên ở Nghệ An hoạt động lâu năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh tâm sự: “Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học. Việc lớn, việc nhỏ, tôi phải tham gia. Công việc cứ tiến mãi. Không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau ”([13]). Với các đảng viên mới, Người cũng căn dặn: “Bác thường nghe nói có đồng chí mới 40 tuổi mà đã cho mình là già cho nên ít chịu học tập. Nghĩ như vậy không đúng, 40 tuổi chưa phải là già. Bác đã 76 tuổi nhưng vẫn cố gắng học thêm. Chúng ta phải học và hoạt động cách mạng suốt đời. Còn sống thì còn phải học, còn phải hoạt động cách mạng”([14]).
3. Qua gần 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Đa số cán bộ, đảng viên phát huy được vai trò tiên phong, gương mẫu, năng động, sáng tạo trong công tác, rèn luyện phẩm chất, năng lực, đóng vai trò nòng cốt trong công tác đổi mới. Tuy nhiên, trong Đảng và trong xã hội ta hiện nay đã xuất hiện tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống, như Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) nêu rõ: "Công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém, khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Nổi lên một số vấn đề cấp bách sau đây: Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống...".
Người quân tử trong Nho giáo tu thân là khi biết tổng hợp ý kiến, lắng nghe nhiều ý kiến khác nhau. Ngày nay, việc rèn luyện nâng cao đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên phải là hành động tự giác, thường xuyên lắng nghe ý kiến của nhân dân, thực hành dân chủ rộng rãi. Ngay ở cơ sở, các cán bộ, đảng viên, người giữ trọng trách các cơ quan, việc lắng nghe ý kiến nhân dân cần được thực hiện tốt hơn. Việc lắng nghe những ý kiến đóng góp, biết nghe những lời trách cứ, phê phán dân để tự sửa mình không phải nơi nào cũng thực hiện được. Làm sao để điều đó không là nỗi ám ảnh, thực sự là những điều cần thiết, là tấm gương soi mà người đảng viên, người lãnh đạo cần có, cần sử dựng thường xuyên như một trong những công cụ để tự hoàn thiện mình.
 
Chú thích:
 

[1] Ông sinh năm 551 mất năm 479 Tr.CN
[2] Tứ Thư (trọn bộ 4 tập), t.1: Đại Học, Bản dịch của Đoàn Trung Còn, Nxb Thuận Hóa, 2006, tr.9
[3] Chu Hy, Tứ thư tập chú, Dịch và chú giải Nguyễn Đức Lân, Nxb Văn hoá thông tin, H.1998, tr.1344
[4] Chu Hy, Sđd, tr.558
[5] Nguyễn Tài Thư, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học xã Hội, H.1993, tr. 191
[6] Nguyễn Tài Thư, Sđd, tr.266
[7] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2011, t.1, tr.461
[8] 117 Chuyện kể về Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh – Nxb Chính trị Quốc gia
[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2011, t.2, tr.563
[10] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.291,292
[11] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.117
[12] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.672
[13] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.273
[14] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.113