Chủ tịch Hồ Chí Minh với Thủ đô Hà Nội những ngày đầu toàn quốc kháng chiến chống Pháp

ThS. Cao Thị Hải Yến 
PGĐ Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Năm 1945, sau khi chúng ta vừa giành độc lập, thực dân Pháp đã lăm le phát động cuộc chiến tranh nhằm thủ tiêu
Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa non trẻ. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ đô Hà Nội cùng cả nước đã đoàn kết đồng lòng kháng chiến gìn giữ đất nước. Với chủ trương “hòa để tiến”, ta đã ký với Pháp Hiệp định sơ bộ 6/3/1946, Tạm ước 14/9/1946 để tranh thủ thời gian tiếp tục xây dựng lực lượng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến toàn quốc chắc chắn sẽ xảy ra.
Trước tình thế nguy nan “ngàn cân treo sợi tóc”, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ Hà Nội đã đoàn kết toàn thể nhân dân Thủ đô thực hiện kháng chiến kiến quốc, chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, đánh bại mọi âm mưu của đế quốc Anh - Pháp - Mỹ - Tưởng và bọn tay sai phản động, bảo vệ chế độ mới, giữ vững an ninh trật tự Thủ đô. Đảng bộ Hà Nội đã tăng cường củng cố hệ thống Đảng, chính quyền Mặt trận dân tộc thống nhất từ thành phố đến các khu phố, làng xã; phát triển sâu rộng lực lượng chính trị, củng cố kiện toàn lực lượng vũ trang thủ đô gồm ba thứ quân (Vệ quốc đoàn, Tự vệ chiến đấu thành Hoàng Diệu, Tự vệ rộng rãi ở các nhà máy, xí nghiệp, khu phố, làng xã). Từ sau Hội nghị quân sự toàn quốc của Đảng (ngày 19/10/1946), Thủ đô Hà Nội chuẩn bị kháng chiến. Tháng 11/1946, Trung ương Đảng chia cả nước thành 12 chiến khu, Hà Nội là chiến khu XI. Cả thành phố trở thành trận địa. Các lực lượng vũ trang thủ đô (5 tiểu đoàn Vệ quốc đoàn và 9.000 tự vệ) với vũ khí thô sơ được giao trọng trách giam chân và tiêu hao địch trong thành phố một thời gian, tạo điều kiện cho Đảng và Chính phủ rút lên Việt Bắc an toàn. Ủy ban bảo vệ Hà Nội được đổi tên thành Ủy ban kháng chiến Hà Nội để chỉ huy kháng chiến ở Thủ đô.
Sau khi bội ước đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn, ở Hà Nội, thực dân Pháp trắng trợn khiêu khích ta nhiều hơn. Trong văn kiện “Công việc khẩn cấp bây giờ” (5/11/1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra những phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu của kháng chiến. Phải đánh một tên đế quốc lớn, cuộc kháng chiến giành độc lập tự do của nhân dân ta sẽ vô cùng gian khổ nhưng nhất định thắng lợi. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “… phải hiểu, phải làm cho dân hiểu rằng: cuộc kháng chiến sẽ rất gay go cực khổ” nhưng “Cố rán sức qua khỏi mùa đông lạnh lẽo, thì ta sẽ gặp mùa xuân”. Để đánh thắng phải: “KHÁNG CHIẾN VÀ KIẾN QUỐC. Một mặt phá hoại. Một mặt kiến thiết. Phá hoại để ngăn địch. Kiến thiết để đánh địch”. Phải là một cuộc chiến tranh toàn dân: “Tổ chức du kích khắp nơi. Tăng gia sản xuất khắp nơi. Dù phải rút khỏi các thành phố, ta cũng không cần. Ta sẽ giữ tất cả thôn quê”(1). Ta có quân đội, có nhân dân, có địa thế tốt, nhất định kháng chiến sẽ thắng lợi.
Kẻ thù theo dõi sát sao những hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thậm chí còn bố trí súng máy chĩa vào cửa sổ Bắc Bộ phủ, nơi Người thường làm việc. Sau khi nắm được tin mật của địch chuẩn bị cho quân đóng ở các địa phương lập thành những đội biệt kích gọn nhẹ, giả trang sẵn sàng bắt cóc và thủ tiêu cán bộ cốt cán của ta, Thường vụ Trung ương Đảng giao cho các đồng chí Nguyễn Lương Bằng và Trần Đăng Ninh bảo vệ đưa Bác lánh ra ngoại thành. “7giờ30 tối thứ ba, ngày 26/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh bí mật rời Hà Nội. Chiếc xe Ford cũ, mui vải, chạy chầm chậm qua Hàng Gai, Hàng Bông, Ngã Tư Sở rồi đi thẳng vào Hà Đông. Trăng sáng, gió lành lạnh… Trong xe tối mờ mờ. Từ lúc lên xe, Bác im lặng, không nói gì, Bác Hồ đang suy nghĩ… Qua cầu xi măng, xe rẽ ngoặt về hướng Sơn Tây, qua Đại Mỗ đến Canh. Bác xuống xe, áo the, khăn xếp như cụ Lý về quê”(2). Đây là ngôi nhà của bà Tống Minh Phương, một cơ sở cách mạng của ta ở Côn Minh đã mua lúc về nước. Khu biệt thự này gồm 5 gian nhà ngói có vườn, tường bao bọc xung quanh và đặc biệt có một chiếc ao to trước cửa trồng nhiều liễu nên mọi người gọi đây là biệt thự Cây Liễu. Chỉ khi nào cần thiết Bác mới vào thành phố.
Ngày 29/11, Đảng ra lời kêu gọi: “Hỡi toàn quốc đồng bào! Những hành động của Pháp xâm phạm chủ quyền Việt Nam có thể lan rộng. Tình thế vô cùng nghiêm trọng. Hãy sẵn sàng chiến đấu để tự vệ bất cứ nơi nào và chỗ nào”. Ngày 2/12, quân Pháp từ các nơi được điều về Hà Nội nhiều hơn, chúng lập ổ chiến đấu ở các nhà Pháp kiều. Báo chí Pháp ở Hà Nội cũng công khai nói xấu Chính phủ ta, xuyên tạc các sự kiện. Bọn Tây mũ đỏ kéo đến phá phách nhà thông tin Tràng Tiền. Ba đêm liền, xe lính Pháp đi rải truyền đơn khắp thành phố. Nhân dân Hà Nội được lệnh tản cư về các vùng nông thôn. Ngày 3/12, 6 giờ sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Canh ra Bắc Bộ phủ, Người làm việc đến 18 giờ thì tiếp Sainteny - đại diện chính trị của Chính phủ Pháp để thỏa thuận một số điều khoản. Thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh xin lỗi phải nằm nói chuyện vì mệt, nét mặt Sainteny lộ rõ sự vui mừng với ý nghĩ sẽ nắm được thế chủ động khi đúng vào thời điểm nước sôi lửa bỏng này, người đứng đầu Chính phủ Việt Nam lại yếu sức khỏe. Đến 19 giờ cùng ngày, đồng chí Trần Đăng Ninh đưa xe đón Bác đi thẳng vào làng Vạn Phúc, thị xã Hà Đông. Người ở trên gác xép hẹp của nhà ông Nguyễn Văn Dương, một cơ sở cách mạng. Trong 16 ngày ở và làm việc tại làng Vạn Phúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước khẩn trương chuẩn bị cho cuộc kháng chiến toàn quốc. Hàng ngày vẫn có tin tức và công văn gửi đến, mọi việc vẫn được giải quyết một cách kịp thời. Các đồng chí Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp thường đến làm việc với Bác theo quy định mỗi người đến cách nhau ít nhất 5 phút. Tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết nhiều văn kiện quan trọng như Chỉ thị toàn dân kháng chiến, Thư gửi Xứ ủy Nam bộ và Lời kêu gọi gửi đồng bào toàn quốc, gửi nhân dân Pháp, nhân sĩ toàn thế giới.
Trong hai ngày 17-18/12/1946, thực dân Pháp liên tiếp có những hành động gây hấn, khiêu khích ở Hà Nội. Máy bay thám thính của Pháp bay trên bầu trời. Chúng phá các ụ chiến đấu của anh em tự vệ và nã súng vào đồng bào, đốt nhà, bắt phụ nữ vào thành. Ngày 18-19/12/1946, tại làng Vạn Phúc, dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thường vụ Trung ương họp khẩn cấp, hội nghị đã khẳng định những quan điểm cơ bản về đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và quyết định phát động toàn quốc kháng chiến. Hội nghị thông qua Lời kêu gọi kháng chiến và thống nhất khi trên Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi câu “Đồng bào chú ý! Xin trân trọng mời đồng bào cả nước nghe lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, đó sẽ là hiệu lệnh tổng tấn công toàn quốc. Đến 18 giờ 45, Chủ tịch Hồ Chí Minh thu xếp tài liệu và cùng bộ phận tiếp cận lúc ấy có 8 người vừa làm bảo vệ kiêm liên lạc, thư ký mà Bác đặt biệt danh là Đội thanh niên tuyên truyền xung phong rời làng Vạn Phúc đi Xuyên Dương (xã Xuân Dương, Thanh Oai, Hà Đông), bắt đầu chặng đường kháng chiến trường kỳ vô cùng gian khổ.
Ngày 18/12/1946, địch vẫn bao vây trụ sở công an Hàng Đậu, chúng yêu cầu ta phá các ụ chiến đấu. Chúng còn dùng xe tăng chiếm Nha tài chính, gửi tối hậu thư đòi đến ngày 20/12 sẽ đảm nhận việc giữ gìn trị an Hà Nội. Ngày 5/12/1946, Khu ủy khu XI nhân danh Thành bộ Việt Minh kêu gọi nhân dân Thủ đô tích cực chuẩn bị kháng chiến, sẵn sàng đợi lệnh. Tổ chức Đảng các cấp từ thành phố đến cơ sở, xác định quyết tâm chiến đấu và khẩn trương chỉ đạo hoàn thành những khâu cuối cùng của công tác chuẩn bị. Ngày 15/12/1946, Khu ủy và Ban Chỉ huy Mặt trận Khu XI họp kiểm điểm và bổ khuyết kế hoạch sẵn sàng chiến đấu của Đảng bộ và Nhân dân Thủ đô. “Thà chết không chịu làm nô lệ”, quân và dân Thủ đô sôi sục căm thù, thề chiến đấu đến cùng bảo vệ Thủ đô, bảo vệ Tổ quốc. Ngày 16/12/1946, Vệ quốc quân làm lễ tuyên thệ “Quyết tử để bảo vệ Thủ đô”. Ngày 18/12/1946, Tự vệ thành Hà Nội họp quyết nghị: “Sẵn sàng đợi lệnh, thề sống chết với Thủ đô”.
Ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Quân dân Hà Nội là những người có vinh dự nổ những phát súng đầu tiên của cuộc kháng chiến toàn quốc. Đúng 20 giờ ngày 19/12/1946, pháo đài Láng bắn phát súng báo hiệu toàn thể nhân dân Việt Nam bắt đầu cuộc kháng chiến vệ quốc, thể hiện quyết tâm: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”(3) như Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định. Công nhân nhà máy điện Yên Phụ phá máy. Đèn điện trong thành phố phụt tắt. 22 giờ, mệnh lệnh tác chiến của đồng chí Võ Nguyên Giáp truyền đến các đơn vị tự vệ và các chiến sĩ Vệ quốc đoàn. Đại bác của ta từ pháo đài Láng, Xuân Tảo, Canh tới tấp nã vào trại lính Pháp trong thành Hà Nội. Các lực lượng vệ quốc đoàn, công an, tự vệ đồng loạt tiến công các vị trí của địch. Tự vệ nổ mìn hạ hàng loạt cây to và cột đèn, công nhân lật nghiêng những toa xe điện, xe lửa ở các ngã ba, ngã tư làm chướng ngại vật cản trở địch. Nhân dân phố Hàng Gai, Hàng Bông ném các kiện tơ, bông. Các phố Lò Sũ, Hàng Hòm, Hàng Quạt, Sinh Từ khuân những súc gỗ lớn, các phố Tràng Thi, Hàng Đào, Hàng Mã, Hàng Muối ném các bàn, tủ, giường ghế làm ụ cản đường. Các trục giao thông chính trong thành phố bị chia cắt làm nhiều đoạn. Cả Hà Nội vùng lên anh dũng chiến đấu. Trận Bắc Bộ phủ là trận đánh lớn nhất trong những ngày đầu kháng chiến ở trung tâm thành phố, 45 đồng chí đã anh dũng hy sinh, nêu gương sáng cho quân dân Thủ đô noi theo.
Vấp phải sự chiến đấu anh dũng của quân dân Hà Nội, kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của địch bước đầu bị phá sản, chúng buộc phải tập trung lực lượng tấn công ta ở nội thành. Ngày 22/12/1946, địch đánh phố Hàng Da, chợ Hôm, ngày 23/12 đánh Lò Lợn; ngày 24/12 đánh Hàng Bông, ngày 25/12 đánh Đại Cồ Việt, ngày 26/12 đánh Ô Cầu Dền, ngày 27/12 đánh Đông Kinh nghĩa thục ở số 4 Hàng Đào… Trước tình hình đó, Khu ủy khu XI đã lãnh đạo các tổ chức Đảng ủy Liên khu phố tổ chức chỉ đạo quân dân chặn đánh địch với quyết tâm “Mỗi người dân là một chiến sĩ”, “Mỗi nhà là một pháo đài”, “Mỗi phố là một chiến lũy”, các chiến sĩ cảm tử quân đã viết lên tường, lên chiến lũy những khẩu hiệu “Sống chết với Thủ đô”, “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, “Hà Nội - Xtalingrat của Việt Nam”… Tính đến 29/12/1946, đã diễn ra 47 trận đánh quyết liệt tại Hà Nội, trong đó có các trận tập kích vào Hàng Đậu (ngày 22/12), nhà phái bộ Anh (ngày 23/12), nhà Diên (ngày 24/12), phố Khâm Thiên (ngày 28/12). Nhân dân Thủ đô hưởng ứng Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đều trở thành tự vệ chiến đấu, phát huy nhiều sáng kiến diệt giặc. Ở bất cứ nơi đâu, quân Pháp cũng vấp phải sức chiến đấu quyết liệt của quân dân Hà Nội.
Ở Xuyên Dương, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí trong Trung  ương  đã giải quyết nhiều công việc quan trọng của những ngày đầu kháng chiến. Qua sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam và bằng con đường ngoại giao, Người đã nhiều lần gửi thư cho Chính phủ, Quốc hội và nhân dân Pháp, cho các quan chức cấp cao của Pháp: Thủ tướng Lêông Blum, Bộ trưởng Hải ngoại Mutê, tướng Lơcơléc. Người cũng gửi thư cho các tù binh Pháp, cho các nhà báo và nhân dân thế giới giải thích về mục đích, tính chất cuộc chiến tranh của nhân dân Việt Nam. Người quan tâm thăm hỏi, động viên các chiến sĩ bị thương và khen ngợi đội ngũ y bác sĩ tận tình cứu chữa thương bệnh binh. Người gửi thư cho đồng bào, chiến sĩ cả nước động viên tham gia kháng chiến, tăng gia sản xuất, làm tốt nhiệm vụ hậu phương… Từ tối ngày 26/12/1946 đến 1 giờ sáng ngày 27/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp Chính phủ, bàn định nhiều vấn đề của đất nước sau gần 10 ngày kể từ khi kháng chiến bùng nổ. Kết luận phiên họp, Bác cùng các đồng chí nắm tay giơ cao biểu dương ý chí kháng chiến của cả dân tộc. Tối ngày 13/1/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Xuyên Dương về ở xóm Lai Cài, thôn Phú Đa, xã Cần Kiệm, huyện Thạch Thất.
Ngày 14/1/1947, Đội quyết tử của Trung đoàn Thủ đô được thành lập và làm lễ tuyên thệ “Quyết tử” tại rạp Tố Như trước khi bước vào đợt chiến đấu mới. Từ giữa tháng 1/1947, thực hiện phương châm của Trung ương Đảng “bảo toàn thực lực kháng chiến lâu dài”, Đảng ủy và Ban chỉ huy mặt trận khu XI chủ trương “không đánh trận địa với địch, không thủ hiểm ở chỗ nào lâu” nên sau khi chặn đánh địch quyết liệt, quân ta chủ động rút lui, không để cho địch thực hiện ý đồ tiêu diệt lực lượng của ta ở Thủ đô.
Sáng 14/2/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Trường Chinh quyết định để Trung đoàn Thủ đô đã tập trung đầy đủ trên vùng tự do của tỉnh Phúc Yên.
Kể từ mùa đông kiên cường cầm chân địch năm 1946 đến nay, Hà Nội - Thủ đô của niềm tin và hy vọng vẫn đang viết tiếp những trang sử hào hùng của thời đại Hồ Chí Minh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền, nhân dân Thủ đô nhất định sẽ thực hiện được những điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng tin tưởng: “Nhân dân Thủ đô ta có truyền thống cách mạng vẻ vang và lòng nồng nàn yêu nước, tôi chắc rằng đồng bào thủ đô sẽ hăng hái phấn đấu làm cho mọi ngành hoạt động của Thủ đô ngày thêm phát triển, để làm gương mẫu, để dẫn đầu cho nhân dân cả nước ta trong công cuộc củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong khắp nước ta; để xây dựng một đời sống sung sướng, tươi đẹp, thái bình mãi mãi cho con cháu chúng ta”  .
(4)
Trung đoàn Thủ đô rút ra ngoài và căn dặn tổ chức chu đáo, an toàn, bí mật. Người chuyển tới cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn lời khen ngợi “Các chú giam chân địch một tháng là thắng lợi. Đến nay giữ Hà Nội được hai tháng là đại thắng lợi”. Ngày 16/2/1947, Đảng ủy và Ủy ban kháng chiến Hà Nội ra lệnh: “Trung đoàn Thủ đô phải mở đường rút để bảo toàn lực lượng”. Việc chuẩn bị lui quân tuy gấp rút nhưng rất kỹ lưỡng. Kế hoạch được phổ biến đến tất cả để ai nấy đều nắm rõ nhiệm vụ của mình là ra đi để bảo toàn lực lượng và xây dựng ngày về. Đêm 17/2/1947, Trung đoàn Thủ đô chia làm nhiều bộ phận bí mật rút quân, chỉ để lại một bộ phận hoạt động gây rối nghi binh và rút sau cùng. Đến 23 giờ ngày 18/2, tuyệt đại bộ phận Trung đoàn Thủ đô đã sang tới Dâu Canh để ra vùng tự do. Ngày 19/2/1947, sau hai tháng chiến đấu,

Chú thích:
1.  Hồ  Chí  Minh  toàn  tập,  Tập  4,  Nxb  CTQG, H.2011, tr. 483
2. Vũ Kỳ, Thư ký Bác Hồ kể chuyện, Nxb CTQG, H.2005, tr.29
3.    Hồ  Chí  Minh  toàn  tập,  Tập  4,  Nxb  CTQG, H.2011, tr.534
4.    Hồ  Chí  Minh  toàn  tập,  Tập  7,  Nxb.  CTQG, H.2000, tr.368-369